Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012


Chuyện thần thoại dành cho con người tương lai
Tác giả: Một đệ tử Đại Pháp tại hải ngoại
[MINH HUỆ] Một đệ tử Đại Pháp nếu bằng cách nghe biết những chuyện tu luyện của người khác để củng cố vững chắc tín niệm tu luyện Đại Pháp, nhưng lại không từ lý tính để nhận thức chân chính Đại Pháp, mà mong có được tín niệm “bất động như kim cương kiên cố không thể phá” thì ấy vẫn là có lậu. Dưới đây tôi xin kể câu chuyện chân thực cuộc đời mình trước khi tu Đại Pháp. Hy vọng nó có thể giúp cho bộ phận những học viên nào vẫn chưa có được tín niệm bất động như kim cương. Chúng ta hãy cùng trân trọng sự kiện hy hữu hàng vạn năm mới có này, đó là tu luyện Đại Pháp trong quá trình Pháp Chính Càn Khôn.
Khi tôi 14 tuổi, có một vị sư phụ tìm và dạy tôi pháp môn tu luyện của Ngài. Khi ấy tôi mới là cô bé học sinh trung học, còn vị sư phụ đã sống trên 500 năm. Ông thường giảng Pháp cho tôi. Một vấn đề được giảng có khi đến hàng tháng, nhưng tôi vẫn không hiểu rõ cho được. Tôi được khai mở thiên mục ngay từ đầu trong pháp môn tu này, vì thế tôi có thể thấy trong các miếu, các chùa có những phụ thể là cáo, chồn, quỷ, rắn,… Trong các tượng Phật hầu như không có Phật. Những cảnh tượng ấy làm tôi sợ quá, nên tôi thường xin sư phụ đóng thiên mục của tôi lại.
Khi Đại Cách mạng Văn hoá xảy đến, mọi người đều đến Bắc Kinh, còn tôi, khi ấy quãng 26, 27 tuổi, một mình thân gái tìm đến núi Nga Mi [thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc]. Lên lưng chừng núi tôi tới một ngôi chùa và gặp vị phương trượng trên 70 tuổi ở đó để xin tá túc qua đêm. Lão phương trượng bảo tôi: “Này cư sĩ, cô đi lạc hướng rồi. Cô cần đi hướng Bắc kia.” Tôi vội giải thích: “Cháu không lạc hướng đâu. Phương Bắc là của người thế tục. Còn đây là nơi cháu cần đến.” Lão phương trượng nghe thế rất lấy làm cao hứng, và chúng tôi trở thành những người bạn tâm đầu ý hợp.
Lưu lại được hai ngày, tôi hỏi lão phương trượng cách gọi lũ khỉ đến, vì tôi biết rằng lũ khỉ tại núi Nga Mi này đều có thông linh. Lão phương trượng nói: Hãy xoay mặt vào thung lũng mà gọi: “Tam Nhi, mau về ăn thôi.” Tôi bèn chọn chỗ có tiếng vang và gọi lớn vào thung lũng: “Tam Nhi, mau về ăn đi.” Một chốc sau hàng mấy trăm con khỉ đến, chúng nào hót nào nhảy trước mặt tôi rất là cao hứng. Con khỉ già nhất đến ôm và hôn hít tôi liên tục làm nước miếng dính đầy cả mặt. Sau đó nó nhổ miếng đan của mình ra khỏi miệng và đưa cho tôi. Tôi không dám nuốt lấy vì cảm thấy dơ quá. Lão phương trượng bảo: “Này cư sĩ, tâm của cô vẫn còn chướng ngại. Đan này phải mất mấy trăm năm mới tu được đó.”
Rồi lũ khỉ lập cầu khỉ bắc qua thung lũng (con đằng sau nắm chân con đằng trước cứ lần lượt như thế). Khỉ già nắm lấy tôi và chúng tôi qua bên kia thung lũng, ở đó cũng có một nhóm những con khỉ khác. Lão phương trượng nói: “Trong lịch sử xưa nay, mới chỉ có một người họ Hồ được đón tiếp trang trọng như thế, cô là người thứ hai. Cô còn có 2 điều hơn: thứ nhất là cái Đan do khỉ già đưa tặng, thứ hai là việc lũ khỉ đã vượt ranh giới này để đưa tiễn cô sang tận bờ thung lũng bên kia. Thông thường lũ khỉ không được phép vượt qua ranh giới ấy.”
Tại núi Nga Mi có rất nhiều người tu Đạo, nhưng không ai có thể thấy họ được, vì họ đều có công năng che giấu chỗ ở của mình đối với bên ngoài như được kể trong những chuyện thần thoại. Từ lưng chừng núi trở xuống là những vị đã tu hai, ba trăm năm. Có vị lâu nhất là dưới năm trăm năm. Nhóm này đông nhất và công trụ của họ cao nhất là đến lưng chừng núi.
Trong giới tu luyện thì sư phụ lựa chọn đệ tử, chứ không phải đệ tử chọn sư phụ. Người ta thường nhọc công vô ích cũng không thể tìm được sư phụ. Phần nửa trên núi số người tu luyện ít dần, đồng thời tuổi của họ cũng cao dần lên. Họ đều tu trên 2.000 năm và công trụ của họ đều vượt khỏi hệ Ngân Hà. Có một số đã vượt trên cảnh giới Như Lai, nhưng họ vẫn đang tu luyện vì chưa đến viên mãn. Trong đó có một sư phụ trong quá khứ của tôi. Sau này tôi được biết rằng khi sư phụ vĩ đại của chúng ta – Lý Hồng Chí – lên núi Nga Mi, tất cả người tu luyện đều ra đón chào Ngài, và công trụ của họ nhảy múa trên không trung như pháo hoa vậy.
Tại núi Thanh Thành có một Đạo nhân, tu đã đến 4.000 năm. Ông muốn tôi trở thành đệ tử của mình, nhưng tôi từ chối, nói rằng tôi đã có sư phụ rồi, và tôi mong muốn tìm một Pháp môn để thành Phật trong đời này. Ông nói với tôi: Ta ở đây đã chứng kiến Thích Ca, Giê-su, và Lão Tử đầu thai xuống thế giới này để truyền Pháp độ nhân. Tôn sư Lý Hồng Chí [sau này] có nói trong khi giảng Pháp rằng: Trên đường từ Tứ Xuyên về phía bắc đến Tây An, có nhiều người tu Đạo trong núi ra hỏi Tôn sư tại sao những đệ tử Đại Pháp lại tu mau lẹ như vậy. Tôn sư hỏi họ: “Các đệ tử của ta, tối đa tu hai năm, tối thiểu tu hai tháng; so sánh họ với các vị là sao?” Họ nói rằng: Chúng tôi không có mấy người theo kịp được. Sau đó Tôn sư đồng ý cho họ nghe Tôn sư giảng Pháp. Trong những người tu ấy, cũng có cả Đạo nhân tu 4.000 năm ấy.
Hết Đại Cách mạng Văn hoá, tôi cùng với một vị tu luyện khác đến khu vực Khang Tạng, với hy vọng rằng trong Mật Giáo tôi có thể tìm được Pháp môn tu thành Phật trong đời này. Những người trong giới tu luyện đều biết rằng Mật Giáo Tây Tạng hiện nay đã là tôn giáo chính trị từ lâu và mất căn bản tu luyện, và Mật Giáo chân chính là ở Khang Tạng chứ không phải ở Tây Tạng. Tới nơi, chúng tôi gặp một người cầu chính Pháp, vừa đi vừa lễ lạy suốt từ Trường Xuân đến Khang Tạng. Chúng tôi cùng nhau tìm tới một toà tự viện lớn, tại đó có một vị Đại Lạt Ma đang giảng Pháp. Tới nơi, vị Lạt Ma yêu cầu riêng mình tôi ngồi bên ông để nghe ông giảng, đây là một nghi thức tiếp đón rất hiếm và rất trang trọng trong Mật Giáo. Ông hỏi tại sao chúng tôi đến Khang Tạng cầu Pháp, và chúng tôi nói rằng tại Trung Nguyên [Trung Quốc] không còn chính Pháp, và trong các tự viện là những phụ thể cáo chồn quỷ rắn trú ngụ. Vì thế chúng tôi đến cầu tìm chính Pháp tại đây. Vị Đại Lạt Ma tĩnh lặng một lúc rồi nói: “Không phải vậy. Tại Trung Nguyên sẽ sớm có Đại Pháp vạn năm khó gặp. Nó sẽ xuất phát từ Trường Xuân. Các vị hãy quay về và chờ đợi.” Nghe vậy, tôi vội xuống núi và thoả thuận với bạn đồng hành rằng hễ ai tìm được Pháp ấy trước sẽ báo cho người kia. Nhưng vị đến từ Trường Xuân lại không tin và ở lại Khang Tạng.
Đầu thập niên 80, xuất hiện rất nhiều trẻ em có công năng. Có người đọc được bằng tai, có người nhìn bằng tay hoặc bằng gáy. Tôi tin rằng quý vị hãy còn ấn tượng từ những tình thế lúc bấy giờ. Chúng tôi những người tu luyện đều biết được tính chân thực của những điều ấy, và rằng những công năng ấy không được phép biểu diễn. Vì vậy tôi đã tìm đến rất nhiều em như vậy và giải thích với cha mẹ chúng tại sao không nên đưa công năng của con mình ra biểu diễn. Kết quả là tất cả những em đó đều được bảo hộ và sau này tham gia tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Còn những em bị gia đình đưa ra biểu diễn cuối cùng sau này đều bị hư hỏng trong xã hội người thường và cũng gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Bởi vì những công năng này không được phép hiển thị tuỳ ý ngoài xã hội người thường. Còn đối với việc gọi là chỉ trích công năng thì đó chẳng qua chỉ là những con rối mà chư Thần bày ra để khống chế tác hại của những hiện tượng như trên để khỏi ảnh hưởng đến xã hội người thường. Người ta càng không tin vào Thần thì lại có càng ít các công năng đặc dị mà chư Thần cho phép chứng kiến. Nếu Thần cho phép thấy được, thì đó chỉ là một chút ví dụ kỳ diệu để người ta có thể thay đổi quan điểm mà thôi. Thế mà nhân loại vẫn còn rất tự hào về những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại của mình.
Tại sao lại có những chuyện thần thoại na ná như nhau tại hầu như tất cả các nước? Ngày xưa đâu đã có các phương tiện truyền thông. Chính là vì nhân loại không còn tin vào Thần nữa, mà những câu chuyện thật về Thần lại trở thành chuyện “thần thoại”. Hồi ấy những em được tôi bảo hộ nói với tôi rằng: “Chủ của vũ trụ sẽ xuống cứu địa cầu.”
Mãi đến đầu thập kỷ 90 tôi vẫn chưa tìm được Pháp lớn (Đại Pháp), và tôi rất lấy làm thất vọng. Một hôm tôi quỳ trước một tượng Phật và thệ nguyện rằng: “Tôi nhất định tìm cho được Pháp môn chân chính tu luyện tính mệnh song tu, thành Phật trọng đời này để phổ độ chúng sinh.” Trong lúc ngồi luyện công đêm ấy, chủ nguyên thần của tôi bay lên đến hết không gian này đến không gian khác, đến không gian nào tôi cũng hỏi: “Pháp môn chân chính tính mệnh song tu, thành Phật trong đời này có không?” Mỗi mỗi không gian đều có rất nhiều người tu luyện, nhưng họ chưa từng nghe về Pháp môn chân chính và tốt như thế. Họ nói với tôi: “Có tìm được Pháp môn chân chính và tốt như thế, thì nhất định truyền lại cho chúng tôi, độ chúng tôi nhé.”
Sau đó công lực của tôi không cho phép tôi lên cao hơn. Một trong những sư phụ quá khứ đưa cho tôi một con hạc tiên và nó giúp tôi lên cao hơn. Đến mỗi không gian, tôi lại tìm và hỏi về chính Pháp ấy, cho đến khi không thể lên cao hơn nữa. Tất cả những người tu luyện tại các không gian đều thật tâm mong tôi sẽ tìm được Pháp chân chính và tốt như thế để truyền Pháp cứu độ họ.
Tôi cảm thấy rất buồn bực và thất vọng. Đột nhiên, từ trên trời cao bay xuống một đoá hoa sen đưa tôi lên. Đoá sen đưa tôi đến một điện Phật huy hoàng tráng lệ, ở đó có một vị Đại Phật đang giảng Pháp. Có tầng tầng lớp lớp chư Phật đang nghe Pháp của Ngài. Các vị Phật ngồi gần vị Đại Phật thì có thân thể to lớn hơn, còn các vị Phật ngồi xa vị Đại Phật thì có thân thể nhỏ hơn. Ngồi tại tầng ngoài cùng là các vị Phật Như Lai, và có thân thể nhỏ nhất. Có rất nhiều Phật Như Lai, trong đó có cả Lão Tử và Khổng Tử. Tôi ngạc nhiên khi thấy cả Giê-su cũng trong số ấy.
Tuy nhiên, lúc tôi đến là lúc Pháp hội giải tán. Tôi cảm thấy rất buồn vì thấy cơ duyên của mình với Pháp này còn mỏng quá. Đoá sen đưa tôi tiến đến trước mặt vị Đại Phật, và thân thể tôi cũng lớn dần nhờ sự gia trì từ Phật lực của vị Đại Phật. Vị Đại Phật thực hiện đại thủ ấn về phía tôi. Lập tức xuất hiện muôn đạo kim quang, và từ muôn đạo kim quang bay ra những kinh thư lấp loáng sắc vàng. Tôi mừng quá đưa hai tay đón lấy, hai cuốn kinh thư đầu tiên là Chuyển Pháp Luân và Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh). Tư tưởng tôi chợt máy động: “Tại xã hội người thường con biết tìm Ngài ở đâu?” Vị Đại Phật liền biến thành hình Sư phụ Lý Hồng Chí trong cuốn “Chuyển Pháp Luân” với bộ âu phục. Còn tôi được đưa về thân người ở nhân gian.
Tôi nóng lòng chờ đợi Pháp tại nhân gian và thời gian ấy quả là bứt rứt. Đến năm 1995, tôi bắt gặp người bạn đã cùng đi đến Khang Tạng. Thấy cô ấy sắc mặt hồng hào hẳn, tôi nói: “A, bạn chắc được chính Pháp rồi, cho tôi xem với.” Tôi giục cô ấy đưa về nhà, và khó có thể tả được tâm trạng phấn khởi của tôi lúc ấy. Vừa vào nhà tôi đã thấy cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)” trên bàn. Đúng là cuốn sách mà tôi tìm kiếm bấy lâu! Tôi giữ chặt nó trong tay, nhưng bạn tôi không cho tôi mang cuốn sách đó về vì cô ấy chỉ có mỗi một cuốn. Tôi nói: “Thế thì cho tôi biết bạn có cuốn sách này ở đâu để tôi đi kiếm.” Cô ấy cho tôi địa chỉ cửa hàng sách và tôi vội đến đó ngay, nhưng nhà hàng đang đóng cửa. Tôi hỏi chủ hiệu cuốn sách mang tên“Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)”, nhưng ông ấy nói rằng đã bán hết rồi: “Đợi đợt sau vậy”. Tôi không tin, và tự mình lục tìm trong giá sách. Tôi không tìm thấy, nhưng cũng không muốn bỏ cuộc. Cuối cùng tôi mở một ngăn kéo trong tủ sách và thấy hai cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)”lấp lánh kim quang. Tôi mua chúng luôn.
Về đến nhà là tôi đọc ngay, và lập tức sáng tỏ. Những sư phụ tôi từng học đã dạy tôi nhiều điều, trong đó có cả vòng đại và tiểu chu thiên, huyền quan thiết vị, thiên mục, túc mệnh thông,… Có khi phải mất cả năm trời để giải thích một điều mà tôi vướng mắc, mà tôi vẫn không hiểu được thấu đáo. Vậy mà chỉ vài câu chữ trong cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)” đã làm sáng tỏ cả. Vì sao người xem kinh thư Đại Pháp nói rằng học cao khó hiểu? Cớ gì họ lại nghĩ rằng khẩu khí Tôn sư phóng đại quá? Đó là vì Tôn sư nói rõ những điều bí mật trong những bí mật của giới tu luyện mà người khác rất quý tiếc và không ai thực sự đề cập đến. Một người làm sao có thể đơn giản ngay lập tức chấp nhận trong đầu những điều sâu sắc ấy? Ngay cả một vị Thần cũng không thể. Vì thế có một số người cho rằng Tôn sư nói phóng đại.
Sau này có học viện hoạ lại câu chuyện của tôi thành tranh và đưa Tôn sư xem. Tôn sư nói: “Cái này sẽ là chuyện thần thoại cho con người tương lai.”
Tại Khang Tạng, tôi truyền Pháp cho những em mà trước đây tôi bảo hộ để chúng không biểu diễn công năng, và cho những người tu luyện trong núi. Tất cả đều quay lại trần thế để tu Đại Pháp. Có khi sư đệ đắc được Pháp trước, sau đó truyền sang sư huynh. Rồi sư huynh lại truyền lại cho sư phụ, và tất cả cùng đắc Pháp. Rất nhiều hoà thượng đã được Bồ Tát Quán Âm điểm hoá vào đêm trước khi học viên chúng tôi lên núi Nga Mi để hồng truyền Đại Pháp. Họ xuống núi và quỳ bên đường để đón cuốn “Chuyển Pháp Luân.” Tôn sư nói: “Thần đều biết ta đang truyền Đại Pháp. Chỉ có người là không biết.”
Tôi lập một danh sách những đệ tử chuyển sinh hạ giới của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó, tôi tìm đến và truyền Pháp cho họ. Nhưng một số đã quá mê mờ trong [xã hội] người thường và không thể đắc Pháp được nữa. Không phải ai cũng có khả năng đắc Đại Pháp. Nhiều người đã tu cả mấy nghìn năm mà vẫn chưa đạt viên mãn, họ muốn đắc được Pháp này, nhưng không thể. Đắc được Pháp này là điều quý giá vạn năm khó gặp, vậy mà người thường chẳng biết trân trọng Đại Pháp vĩ đại của vũ trụ.
Chư Thần đều biết rằng bức hại Đại Pháp là tội không thể tha thứ.
Câu chuyện này chỉ là một phần nhỏ trong những kinh nghiệm tu luyện của tôi, và tôi cũng chỉ là một học viên Đại Pháp bình thường.
Dịch từ:
http://minghui.cc/mh/articles/2001/4/4/9613.html
http://www.clearwisdom.net/eng/2001/Apr/09/ESA040901_1.html

Thứ Bảy, 26 tháng 11, 2011


Giải mã văn hóa Trung Hoa (I): Đồ hình cổ xưa hiện Pháp Luân
Tác giả: Chính Ngộ
[Chanhkien.org] Như mọi người đều biết, trong lịch sử Trung Quốc có một số đồ hình gắn liền với dân tộc Trung Hoa, ví dụ Hà Đồ, Lạc Thư, Bát quái, Thái Cực, phù hiệu chữ Vạn (卍), tựa như xuất hiện ngay khi kỷ nguyên lịch sử mới bắt đầu. Trước tiên chúng ta nói về ghi chép liên quan trong văn hiến cổ đại:
Tương truyền vào thời Phục Hy trong Tam Hoàng thời thượng cổ, trên sông Hoàng Hà xuất hiện một con Long Mã (đầu rồng mình ngựa), trên lưng có những điểm đen trắng cấu thành một bức đồ; Phục Hy theo đó mà diễn ra Bát quái, bức đồ này gọi là “Hà Đồ”. Rất nhiều người đều thử một quá trình suy luận như vậy, nhưng đều thất bại, từ đó cho rằng đây chỉ là truyền thuyết. Thực ra điều này là có thật, sau đây tôi sẽ nói về quá trình đưa ra như thế nào. Xin xem hình dưới:
Hình 1: Hà Đồ.
Tương truyền khi Đại Vũ trong Ngũ Đế trị thủy, trên sông Lạc xuất hiện một con rùa lớn, trên lưng rùa mang hoa văn cấu thành một bức đồ, bức đồ gọi là “Lạc Thư”. Xin xem hình dưới:
Hình 2: Lạc Thư.
Có người nói Hà Đồ, Lạc Thư đã được thừa nhận và ghi lại rõ ràng trong văn hiến thời cổ đại, nhưng phù hiệu chữ Vạn (卍) thì không phải của Trung Quốc, mà là sau này Phật giáo truyền nhập vào Trung Quốc mới có. Thực ra điều này không sai; tuy nhiên phù hiệu chữ Vạn (卍) này đã liên tục được lưu truyền tại Trung Quốc, chỉ là vô cùng ẩn giấu. Bí mật này kỳ thực ẩn trong Hà Đồ và Lạc Thư.
Lĩnh vực số học của chúng ta đối với nghiên cứu Lạc Thư là có rất nhiều, bởi vì Lạc Thư rất minh hiển, bất luận là ngang, dọc, trái, phải, chéo thì cộng tổng 3 số đều được 15. Đây chính là ma phương trong số học. Tuy rằng số học hiện đại dường như chưa động chạm đến Hà Đồ, nhưng khoa học cổ đại là có nghiên cứu; kỳ thực từ Hà Đồ này chúng ta có thể nhìn ra một quy luật. Lấy 10 và 5 làm trục. 1-6, 2-7, 3-8, 4-9, bốn cặp số này đều có liên hệ mật thiết với nhau. Trong rất nhiều sách cổ thời cổ đại đều có luận thuật, hơn nữa nhiều ngành học đã vận dụng thành công quy luật này. Ở đây tôi không muốn dẫn giải những thứ này, mà chỉ xin đưa ra mấy câu trong tri thức văn hóa cổ đại Trung Quốc: “Thiên nhất sinh thủy, Địa lục thành chi…” Ai không tin có thể tra thử xem. Tôi có thể đưa ra mấy ví dụ nữa, bàn tính của Trung Quốc cũng sinh ra như vậy. Như mọi người biết, cách tính này kỳ thực là cực kỳ nhanh, vượt qua cả máy tính. Trên bàn tính, 1 và 6 đều là một hạt bên dưới, khác biệt với trên 0 còn có 5. 2-7, 3-8, 4-9, mấy cặp số này cũng như vậy. Điều này thuyết minh rằng giữa mấy số này xác thực là có liên hệ vi diệu. Sự thật chứng minh rằng các quy luật này không chỉ tồn tại, mà còn có tác dụng rất lớn.
Chúng ta đem quy luật loại này đưa vào Lạc Thư thì có thể được tình huống sau. Lấy 5 làm trung tâm, 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 lần lượt có 4 cặp số nối liền. Được hình bên dưới:
Hình 3: Quan hệ giữa Lạc Thư và ma phương. Cộng ngang, dọc, trái, phải, chéo thì đều được 15. Nối 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 với 5 được phù hiệu chữ Vạn (卍).
Thật kinh ngạc! Cả người Đông và Tây phương đều thấy vậy! Tiêu chí của Phật gia—phù hiệu chữ Vạn (卍). Chúng ta biết rằng phù hiệu chữ Vạn (卍) này đều từng xuất hiện tại Ấn Độ và Tây Âu. Giới học thuật thường cho rằng Trung Quốc cũng đã sớm có, nhưng không có gì để chứng minh. Chẳng ngờ nó ẩn thân tại nơi đây. Hai đồ hình này đã được lưu truyền rất lâu trong lịch sử Trung Quốc. Khi giao thông trong quá khứ còn chưa thông suốt, cả Đông và Tây phương đều có phù hiệu này, liệu có thể là trùng hợp không?
Trong «Chuyển Pháp Luân» chỉ rõ: “Thực ra không chỉ khí công là được lưu lại từ niên đại xa xưa; [mà] Thái Cực, Hà Đồ, Lạc Thư, Chu Dịch, Bát Quái, v.v. đều là [những thứ] di lưu từ tiền sử. Vậy nên chúng ta hôm nay đứng tại góc độ người thường mà nghiên cứu chúng, nhận thức chúng, [thì] chẳng nghiên cứu được gì sáng tỏ. Đứng tại tầng, từ góc độ, trong cảnh giới tư tưởng của người thường, [thì] lý giải không được những điều chân chính [trong ấy].
Chỉ một lời là rõ ngay. Đến đây dường như đã kết thúc rồi, không phải! Kỳ thực chúng ta mới chỉ vừa bắt đầu mà thôi.
Có người có thể nghĩ, lẽ nào là Pháp Luân? Không sai!
Trong giảng Pháp, Sư phụ Lý Hồng Chí đã nhiều lần giảng về vấn đề phản lý tại nhân gian, còn giảng qua câu chuyện Trương Quả Lão cưỡi lừa ngược. Chúng ta nhìn thấy đúng là như vậy. Chúng ta biết rằng, có hai phù hiệu căn bản và trọng yếu nhất được lưu truyền từ thời cổ đại. Một là Thái Cực đồ của Trung Quốc, và một là phù hiệu chữ Vạn (卍). Vì nguyên nhân nào, thì trong «Chuyển Pháp Luân» Sư phụ Lý Hồng Chí đã nói rất tường tận rồi. Số lẻ cấu thành Lạc Thư (9 con số), ở trên đã phân tích qua, ở đó ẩn tàng phù hiệu chữ (卍); còn số chẵn cấu thành Hà Đồ (10 con số), ở đó ẩn tàng Thái Cực (sẽ có bài phân tích tường tận sau). Thực ra Thái Cực và phù hiệu chữ Vạn (卍) có nguồn gốc sâu xa hơn Hà Đồ, Lạc Thư nhiều, chỉ là hai phù hiệu tạo nên hai đồ hình. Từ đó chúng ta có thể tìm lại quá khứ. Như vậy chúng ta đã biết phù hiệu chữ Vạn (卍) diễn xuất số lẻ, Thái Cực diễn xuất số chẵn. Các con số trong Lạc Thư chia thành hai nhóm, lần lượt là 1, 3, 5, 7, 9 (5 số lẻ) và 2, 4, 6, 8 (4 số chẵn). Chúng ta dùng phù hiệu chữ Vạn (卍) để thay thế số lẻ trong Lạc Thư, lại dùng Thái Cực để thay thế số chẵn, thì sẽ được một đồ hình, với bốn vị trí chính và trung tâm là phù hiệu chữ Vạn (卍), còn tứ giác là bốn Thái Cực, chính là đồ hình Pháp Luân.
Hình 4: Đồ hình Pháp Luân của Pháp Luân Đại Pháp.
Trong lịch sử, các loại sự tình đều sớm được an bài, hết thảy đều để chúng ta hôm nay có thể nhận thức Pháp. Trong những phần sau, tôi sẽ đàm luận về một số biểu hiện khác mà tôi ngộ được. Thái Cực cấu thành Ngũ hành như thế nào; Thái Cực, Ngũ hành biểu hiện ra sao trong giới tự nhiên và trên thân thể chúng ta; Pháp thượng tầng kéo theo biểu hiện của Pháp hạ tầng trong vật chất xung quanh chúng ta như thế nào, v.v. Sự thật chứng minh rằng «Chuyển Pháp Luân» quả đúng là Thiên Thư, câu nào cũng đều là chân lý, thiên cơ. Văn hóa Trung Quốc xác thực là văn hóa Thần truyền. Chúng ta may mắn sinh ra vào thời Đại Pháp hồng truyền, do vậy phải trân quý cơ duyên vạn cổ khó gặp này; hãy tu luyện Đại Pháp, ra sức tinh tấn, mới không phụ lòng từ bi hồng đại của Phật Chủ.
(còn tiếp)
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/zj/articles/2008/5/6/52710.html

Giải mã văn hóa Trung Hoa (II): Lên xuống thuận nghịch tạo càn khôn
Tác giả: Chính Ngộ
[Chanhkien.org] (Tiếp theo Phần 1)
Trong phần trước, tôi đã nói về phù hiệu chữ Vạn (卍) hiển hiện tại Lạc Thư; lần này, tôi sẽ nói về thể hiện của Thái Cực tại Hà Đồ. Kỳ thực trong khoa học cổ đại Trung Quốc vẫn coi số lẻ là Dương, số chẵn là Âm; những ai hiểu sâu về văn hóa cổ đại Trung Quốc đều biết điểm này. Chúng ta xem Hà Đồ thì có thể nhìn ra được, chính là đen (Âm) trắng (Dương). Xin xem hình dưới:
Hình 1: Hà Đồ.
Do đó Dương từ 1 bắt đầu thăng dần lên theo Dương khí, 1→3→7→9, Âm từ 2 bắt đầu hạ dần xuống theo Âm khí, 2→4→6→8, đây chính là trạng thái ‘Dương thăng Âm hàng’. Hai màu đen-trắng của chúng ta thay nhau biểu thị, xin xem hình dưới:
Hình 2: Vận động của Âm-Dương trong Hà Đồ.
Đồ hình trên thời cổ đại gọi là “Hữu cực đồ”; bởi vì văn hóa Trung Quốc đã bị phá hoại, nên rất ít người biết được đồ hình này. Chúng ta nhìn sự lên xuống của đen-trắng sẽ không khó phát hiện khi đến 7, thì thực ra Dương đã lên đến cực điểm rồi, đến 9 thì đã đi xuống rồi. Cũng như vậy khi đến 6 thì Âm đã xuống thấp cực điểm rồi, đến 8 thì đã đi lên rồi. Cổ nhân nói “vật cực tất phản”, chính là đạo lý này. Xoay ngược lại nói, từ chỉnh thể mà xét, Dương khí vượng nhất là lúc Âm khí dần thăng lên, Âm khí vượng nhất là lúc Dương khí dần hạ xuống. Kỳ thực đây chính là Thái Cực đồ. Do đó dùng hình dưới để biểu thị thì càng dễ lý giải hơn:
Hình 3: Thái Cực đồ.
Theo tôi được biết, ‘Dương thăng Âm hàng’ là một đặc tính rất trọng yếu của Thái Cực. Đương nhiên khi chuyển ngược lại thì là ‘Âm thăng Dương hàng’ rồi. Trong Thái Cực đồ, chủng loại lên xuống này là đồng thời tồn tại. Có thể nhìn thấy nó hoàn toàn bị Pháp tầng cao hơn đới động dẫn tới xoay chuyển xuôi ngược, trong «Chuyển Pháp Luân» đã nói rõ. Điều này thể hiện rất nhiều xung quanh chúng ta. Ban ngày Dương khí dần thăng, thủy khí {hơi nước} đều bị đới động thăng lên trên, Âm khí hạ xuống, đến tối chuyển ngược lại. Cổ nhân giảng Dương thanh thăng lên làm trời, Âm trọc hạ xuống làm đất. Bốn mùa cũng là đạo lý này, chớm Xuân nước nóng dần lên (Dương khí), đến mùa Hè là tới cực điểm, sau đó nước bắt đầu lạnh (Âm khí), đến mùa Thu càng lạnh, tới mùa Đông Âm khí trên trời đạt đến cực điểm, bắt đầu một vòng tuần hoàn mới. Trung y giảng 12 kinh tuần hoàn cũng là như vậy, gồm rất nhiều nội dung. Tức là Trung y phát hiện thân thể người nửa thân trên là ‘Dương thăng Âm hàng’, nửa thân dưới là ‘Âm thăng Dương hàng’. Bài công pháp thứ tư của Pháp Luân Đại Pháp là trực tiếp chuyển động theo chính diện. Từ đó có thể thấy, Pháp Luân Đại Pháp xác thực là chiểu theo nguyên lý diễn hóa của vũ trụ mà luyện, hơn nữa cả chỉnh thể đều được khống chế khi luyện.
Đây là từ trên xuống dưới mà nhìn; từ một góc độ khác, thì có ‘Dương dọc Âm ngang’. Chúng ta biết rằng ban ngày Dương khí thịnh, còn ban đêm Âm khí thịnh. Con người chúng ta trong một ngày đêm cũng bị đới động biến hóa theo. Ban ngày đứng thẳng sinh hoạt lao động, đến đêm nằm ngang ngả lưng đi ngủ. Tuy nhiên hiện tại hết thảy đều bị phá hoại nghiêm trọng, có người sống về đêm; buổi tối không ngủ, ban ngày mới ngủ. Đâu đâu cũng tồn tại biến dị.
Phần này nói đến đây là hết. Kỳ thực còn có rất nhiều thể hiện khác chưa được giảng. Phần sau chúng ta sẽ nói về thể hiện cụ thể hơn nữa của Thái Cực tại nhân gian: Nó cấu thành thân thể như thế nào, quy tắc phi thường, đâu đâu cũng đều diễn hóa đới động theo Pháp, hoàn toàn không như người thường vẫn tưởng.
Dịch từ:
http://big5.zhengjian.org/articles/2008/5/14/52850.html

Giải mã văn hóa Trung Hoa (III): Pháp thành hồng vi vô hạn vật
Tác giả: Chính Ngộ
[Chanhkien.org] (Tiếp theo Phần 1Phần 2)
Vũ trụ sinh ra và tồn tại như thế nào mãi vẫn là chủ đề nghiên cứu của nhân loại. Trong «Chuyển Pháp Luân» chỉ rõ: “Đặc tính căn bản nhất trong vũ trụ này là Chân Thiện Nhẫn, Nó chính là thể hiện tối cao của Phật Pháp, Nó chính là Phật Pháp tối căn bản. Phật Pháp tại các tầng khác nhau có các hình thức thể hiện khác nhau, tại các tầng khác nhau có các tác dụng chỉ đạo khác nhau; tầng càng thấp [thì] biểu hiện càng phức tạp. Vi lạp không khí, đá, gỗ, đất, sắt thép, [thân] thể người, hết thảy vật chất đều có tồn tại trong nó cái chủng đặc tính Chân Thiện Nhẫn ấy; thời xưa giảng rằng ngũ hành cấu thành nên vạn sự vạn vật trong vũ trụ; [ngũ hành kia] cũng có tồn tại chủng đặc tính Chân Thiện Nhẫn ấy.
Dưới đây tôi sẽ đàm luận một chút nhận thức về vấn đề này. Tại một tầng thứ nhất định, Thái Cực mà chúng ta nhìn thấy chính là như vậy. Đặc tính sẵn có của Âm-Dương là rất phức tạp, ví như Dương động Âm tĩnh, Dương thượng Âm hạ, Dương tả Âm hữu, Dương dọc Âm ngang, Dương hư Âm thực, Dương ngoại Âm nội, Dương cương Âm nhu, Dương lẻ Âm chẵn, v.v.
Tôi sẽ lấy thân thể người để giải thích. Đạo (Pháp) hình thành Thái Cực biểu hiện trên thân thể người gồm vô số tầng, càng xuống dưới càng phức tạp, tính hỗn hợp càng lớn, càng lên trên càng thuần, đều chồng lên thân thể người, từ đó cấu thành các chủng cơ năng và kết cấu cơ thể người.
Trong «Tinh Tấn Yếu Chỉ» chỉ rõ: “Bất kể loại vật chất và sinh mệnh nào trong vũ trụ đều là từ lạp tử vi quan tổ hợp thành một tầng lạp tử lớn hơn, từ đó tổ hợp thành vật thể bề mặt. Trong phạm vi quán xuyến của hai chủng vật chất tính chất khác nhau này, hết thảy vật chất, hết thảy sinh mệnh đều là giống nhau có tồn tại hai dạng tính, ví như thép rất cứng rắn, nhưng chôn xuống đất thì sẽ bị rỉ mà tiêu đi, còn đồ gốm sứ khi bị chôn dưới đất sẽ không bị ô-xy hoá mà hỏng, nhưng chúng giòn và dễ vỡ.” (Phật tính và ma tính)
Do đó hình thức tồn tại trên thân thể người chính là trong Thái Cực còn có Thái Cực, trong Thái Cực ấy lại có Thái Cực khác nữa, phân thành vô hạn.
Từ tầng ngoài cùng nhất mà xét, Âm-Dương mà Pháp căn bản (Chân-Thiện-Nhẫn) tạo thành sẽ quyết định hai dạng tính của người, nam Dương nữ Âm; từ tính cách cũng có thể phân thành Nam nhân cương Dương, nữ nhân Âm nhu. Giờ hạ xuống một tầng nữa để xét từ góc độ cá thể. Ở phần trước, tôi đã bàn về cách nói Dương thanh thăng lên trên, Âm trọc hạ xuống dưới vào thời Trung Quốc cổ đại. Thực ra theo chỗ tôi biết, đây chính là do Đại Pháp Chân-Thiện-Nhẫn tạo thành. Trong «Chuyển Pháp Luân» có một ví dụ rất sinh động như sau: “Lấy một ví dụ, một chiếc chai đựng đầy thứ dơ bẩn, xiết nút thật chặt; ném nó xuống nước, thì nó chìm ngay đến đáy. Chư vị đổ những thứ bẩn đi, càng đổ nhiều ra thì nó lại càng có thể nổi lên cao hơn; [nếu] đổ hết [thứ bẩn] ra ngoài, [thì] nó nổi hẳn lên trên.” Tất nhiên đây chỉ là thể hiện ở một phương diện, tôi phát hiện kỳ thực tất cả đặc tính mà Thái Cực sở hữu đều là Đại Pháp tạo thành. Trong phần trước, tôi đã nói về phương thức lưu động của kinh mạch trong cơ thể, với chỉnh thể cũng là một Thái Cực và không trùng lặp. Nửa thân trên tại một tầng thứ nhất định thì toàn bộ chính là tính Dương, nửa thân dưới là tính Âm, trong thân thể có phần phân cách ngũ tạng (Trung y giảng ngũ tạng là chỉ can, tâm, tì, phế, thận, đối ứng với Ngũ hành). Dương động Âm tĩnh, chúng ta có thể thấy được, trong ngũ tạng của người, phổi nằm ở trên (Dương), do đó có thể động; còn gan, thận nằm ở dưới (Âm), đều không thể động. Đây thực ra chính là thể hiện của Thái Cực tại một tầng thứ nhất định.
Chúng ta biết rằng người xưa vẫn luôn có cách nói rằng ‘Dương tả Âm hữu’. Loại giao thoa tương hỗ trên dưới, trái phải này, lưỡng tầng trùng tổ, thực tế sẽ xuất hiện năm loại tình huống. Một phần toàn là Dương, một phần Dương nhiều Âm ít, một phần Âm nhiều Dương ít, một phần toàn là Âm, còn có một khả năng, chính là Âm-Dương hoàn toàn bình quân. Theo tôi đây chính là nguồn gốc của Ngũ hành; thực ra nó là do Âm-Dương cấu thành, mà Âm-Dương lại do Đại Pháp Chân-Thiện-Nhẫn cấu thành. Hơn nữa tầng Ngũ hành này đã sản sinh ra đặc tính, chính là ‘tương sinh’ (Mộc sinh Hỏa, Hỏa sinh Thổ, Thổ sinh Kim, Kim sinh Thủy, Thủy sinh Mộc) và ‘tương khắc’ (Mộc khắc Thổ, Thổ khắc Thủy, Thủy khắc Hỏa, Hỏa khắc Kim, Kim khắc Mộc); nguyên nó là sự tương hỗ đối lập trên một tầng Thái Cực. Mời xem hình dưới:
Hình 1: Ngũ hành tương sinh-tương khắc. Mũi tên nét liền là quan hệ tương sinh, mũi tên nét đứt là quan hệ tương khắc. Thứ tự từ trên xuống dưới theo chiều kim đồng hồ là Mộc→Hỏa→Thổ→Kim→Thủy.
Sư phụ Lý Hồng Chí khi giảng Pháp đều chỉ thẳng vào trọng tâm. «Tinh Tấn Yếu Chỉ» chỉ rõ rằng: “Ở rất cao và rất vi quan nơi vũ trụ tồn tại hai chủng vật chất khác nhau, đó cũng là đặc tính Chân-Thiện-Nhẫn tối cao của vũ trụ, thể hiện ra thành hình thức tồn tại của hai chủng vật chất ở một tầng thứ không gian nhất định của vũ trụ. Xuyên suốt từ đó trở xuống, từ vi quan đến hồng quan cho đến một không gian nhất định. Càng xuống dưới thì hai loại vật chất tính chất này, thuận theo trạng thái biểu hiện của Pháp tại các tầng thứ khác nhau, mà biểu hiện càng khác nhau, khác biệt càng lớn. Từ đó mà sinh ra điều mà Đạo gia gọi là Lý ‘âm dương và thái cực’. Xuống tiếp nữa, hai chủng vật chất tính chất khác nhau này càng ngày càng phát sinh đối lập, như vậy hình thành Lý ‘tương sinh tương khắc’.” (Phật tính và ma tính)
Trên thân thể người, Âm-Dương biểu hiện là khí (Dương) huyết (Âm), do đó quá khứ sách Trung y giảng nam nặng tại khí, khí của nam nhân vượng-suy sẽ sản sinh tinh khí; nữ nặng tại huyết, huyết của nữ nhân tròn-khuyết sẽ sản sinh kinh nguyệt. Chúng ta giờ lại từ ngũ quan mà giảng; cổ tịch Trung y «Hoàng Đế nội kinh» đã minh xác ghi lại quan hệ đối ứng giữa ngũ tạng và Ngũ hành. Để giúp mọi người lý giải, tôi liệt kê như sau:
Ngũ quan – ngũ tạng – Ngũ hành – công năng – trạng thái Âm Dương – trạng thái vận động
Mục can Mộc tàng huyết Âm trung Âm tĩnh
Thiệt tâm Hỏa hóa huyết Âm trung Dương động
Khẩu tì Thổ vận hóa bình hành
Tị phế Kim hóa khí Dương trung Dương động
Nhĩ thận Thủy nạp khí Dương trung Âm tĩnh
Thật là kỳ diệu! Dương ngoại hóa, Âm nội thu. Công năng của ngũ tạng mà Trung y giảng, kỳ thực là hỗn hợp Âm-Dương tạo thành. Hai tạng huyết, một hóa (Dương) một tàng (Âm); hai tạng khí, một hóa (Dương) một nạp (Âm). Trạng thái Âm-Dương liệt kê trong biểu trên thực ra chỉ là nhìn từ một tầng diện. Từ một tầng diện khác, toàn bộ ngũ tạng là do Âm hóa sinh, toàn bộ lục phủ là do Dương hóa sinh. Tuy nhiên dù thế nào đi nữa, thân thể người đều nghiêm khắc chiểu theo quy luật Âm-Dương mà tiến hành diễn hóa phức tạp. Đây là nhìn từ góc độ công năng của ngũ tạng, tiếp đây chúng ta sẽ từ hình thái hoặc khí chất để nhìn. Trước hết nói về ngũ quan. Dương hư Âm thực, hai khiếu khí (mũi và tai) trống rỗng, hai khiếu huyết (mắt và lưỡi) lại là thực thể. Dương dọc Âm ngang, hai khiếu khí (mũi và tai) mọc theo hướng dọc, hai khiếu huyết (mắt và lưỡi) mọc theo hướng ngang. Điều kỳ diệu nhất chính là trong hai khiếu khí nằm dọc, một khiếu nằm ở trước sau trung tuyến (mũi), một khiếu nằm ở trái phải trung tuyến (tai). Còn hai khiếu huyết nằm ngang, một là hướng trước sau (lưỡi), một là hướng trái phải (mắt), hơn nữa các khiếu còn đan xen ngang dọc, phương hướng cũng bất đồng, xin xem hình dưới:
Hình 2: Phương hướng ngang dọc của ngũ quan.
Thổ khởi tác dụng bình hành nằm ở giữa (trạng thái trung gian), bởi vì còn liên quan đến đạo lý khác, nên nếu có cơ hội tôi sẽ giảng sau.
Từ những ví dụ ở trên, chúng ta có thể thấy: Pháp thượng tầng hình thành một tầng Pháp ở dưới, càng xuống dưới càng phức tạp, tính hỗn hợp càng lớn. Vật chất ở tầng dưới sau khi sinh ra từ tầng trên sẽ kế thừa đặc trưng của thượng tầng. Khi vận hành, thượng tầng sẽ tự nhiên hình thành và chế ước vật chất tầng dưới, theo cách nói của Đại Pháp là hoàn toàn tương hợp. Từ đó có thể thấy Pháp Luân Đại Pháp đúng là thể hiện chân thực của Pháp vũ trụ.
Những sự việc xung quanh chúng ta, đâu đâu cũng đều kỳ diệu khó tả nếu chúng ta nhìn sâu hơn. Những người có đầu não đều có thể minh bạch, điều này hoàn toàn không phải là ngẫu nhiên. Rất có quy tắc, hoàn toàn không giống như chúng ta vẫn nghĩ. Mỗi phân mỗi tấc trên sinh mệnh chúng ta đều do Pháp cấu thành và diễn hóa. Đồng thời cũng chứng minh rằng trong «Chuyển Pháp Luân» câu nào cũng là chân lý, Chân-Thiện-Nhẫn quả đúng là bản nguyên tạo ra hết thảy sinh mệnh và vật chất trong vũ trụ. Chỉ bởi nó quá cao thâm, nên khoa học bề mặt của nhân loại không sao nghiên cứu được. Thế nhưng khoa học cổ đại của Trung Quốc rõ ràng là đã đi sâu hơn rất nhiều so với khoa học hiện đại.
(Hết)
Dịch từ:
http://zhengjian.org/zj/articles/2008/6/1/53128.html


Truyền kỳ về đại sư Lý Hồng Chí
coverT.jpg
Bìa tạp chí “Tân Kỷ Nguyên” số 225
Chữ trên hình: Truyền kỳ về đại sư Lý Hồng Chí
[ĐẠI KỶ NGUYÊN 28-5-2011] Pháp Luân Công, còn gọi là Pháp Luân Đại Pháp, trước 20-7-1999 —ngày ĐCSTQ (đảng cộng sản Trung Quốc) bắt đầu cuộc đàn áp Pháp Luân Công— ở Trung Quốc có một trăm triệu người theo tập. Nhiều người vẫn kiên trì cho đến nay. Toàn thế giới hôm nay, dân chúng của các dân tộc khác nhau trên 114 quốc gia và địa khu cấp quốc gia đang học Pháp Luân Công. Những văn bản công nhận và khen tặng Pháp Luân Công của chính phủ các nước và các cơ quan quốc tế nay có hàng nghìn: người ta tự tấm lòng cảm thấy rằng Pháp Luân Công đem lại ánh sáng “Chân-Thiện Nhẫn” cho thế giới. Trong “Danh sách 100 thiên tài đương đại” năm 2007, đại sư Lý Hồng Chí, người sáng lập Pháp Luân Công, được xếp hạng thứ 12, là người Hoa có ảnh hưởng lớn nhất đến thế giới đương thời. Năm 2009, đại sư Lý Hồng Chí vinh dự nhận giải “Lãnh tụ tinh thần”, và bốn lần được đề cử cho giải Nobel Hòa bình.
Tuy nhiên, trong danh sách đen của ĐCSTQ, đại sư Lý Hồng Chí bị ĐCSTQ truy nã. Từ năm 2002 đến nay, Quốc hội Mỹ quốc đã nhất trí thông qua các nghị quyết 188, 304 và 605, mạnh mẽ yêu cầu ĐCSTQ chấm dứt ngay cuộc bức hại Pháp Luân Công. Nhưng hành vi thô bạo cướp đi nhân quyền cơ bản của một phần năm dân số thế giới ấy, tội ác trong 12 năm qua ấy, vẫn tiếp diễn cho đến hôm nay tại Trung Quốc.
Là người sáng lập Pháp Luân Công, ông được mọi người gọi một cách trang trọng như “Đại sư Lý Hồng Chí”, “Thầy Lý”, “Lý Sư phụ”, “Master Li”. Ngày 13-5-2011 là ngày sinh nhật lần thứ 60 của đại sư Lý Hồng Chí, và cũng là “Ngày Pháp Luân Đại Pháp” lần thứ 12. Người dân các nơi trên thế giới trang trọng kỷ niệm Ngày Pháp Luân Đại Pháp, đồng thời khiếu nại khẩn cấp bảo vệ sự trong sạch của đại sư Lý Hồng Chí. Chúng ta hãy ngược dòng lịch sử, khám phá sự thật, biết một câu chuyện thực tế về đại sư Lý Hồng Chí.
1105280851371944.jpg
Ảnh: Sau ngày 20-7-1999, đại sư Lý Hồng Chí rời New York, ở trong núi tĩnh quan thế giới. (Minh Huệ Net đăng ngày 19-1-2000)
Nhìn từ xa, bản đồ Trung Quốc tựa hình con gà vàng (kim kê) với mắt gà tại thành phố Trường Xuân, thuộc tỉnh Cát Lâm. Ở nơi ấy có Trường Bạch sơn, một trong mười ngọn núi danh tiếng của Trung Quốc. Đỉnh núi Bạch Vân phong —thắng cảnh du lịch cấp 5A quốc gia— quả là xứng với mỹ danh “thiên niên tích tuyết vi niên tống, chân thượng nhân gian đệ nhất phong” (tạm dịch: ngàn năm băng tuyết chưa từng chảy, quả đúng nhân gian đệ nhất sơn), cũng là ngọn núi cao nhất vùng đông-bắc Trung Quốc. Đại sư Lý Hồng Chí được sinh ra ở thị xã Công Chủ Lĩnh, cách dãy núi Trường Bạch không xa. Ngày 13-5-1951 (ngày 8-4 âm lịch), ở một gia đình trí thức bình dân tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, đại sư Lý Hồng Chí đã giáng sinh đến nhân gian.
Thuở thiếu thời, đại sư Lý Hồng Chí đã sớm khác biệt với những bạn đồng lứa. Tư chất thông minh, tâm tính lương thiện, chủ động trong việc nhà, làm cơm, nhóm lửa, trông em,… Các bạn nhỏ cũng thích chơi với ông, bởi vì gần ông sẽ luôn có cảm giác an toàn.
Tu được tuyệt thế công phu ngay ở tuổi thiếu niên
Trong cuốn «Chuyển Pháp Luân» xuất bản lần đầu 1994, có một đoạn tư liệu tiểu sử về nhà sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí, do Hội Nghiên cứu Pháp Luân Công thời bấy giờ biên soạn. Kể rằng đại sư Lý Hồng Chí bắt đầu tu luyện từ rất sớm. Theo những sư phụ của ông nói, họ đã theo ông ngay từ khi ông còn trong bụng mẹ. Chỉ là đến khi ông bốn tuổi, đại sư Lý Hồng Chí mới nhận ra là ông đang được các vị sư phụ quản.
Theo «Tiểu sử ông Lý Hồng Chí, nhà sáng lập Pháp Luân Công» do Hội Nghiên cứu Pháp Luân Công biên soạn, có giới thiệu rằng, sư phụ thứ nhất của ông là pháp sư Toàn Giác, truyền nhân đời thứ mười của một môn đại pháp đơn truyền bên Phật gia. Ngay từ lúc mấy tuổi, ông đã được sư phụ bắt đầu dạy tu luyện tâm tính, nhưng không dạy các động tác ngoại hình. Tất nhiên, giống như các công pháp bí truyền khác khi dạy đồ đệ của mình, vị sư phụ này cũng không để người bình thường gặp. Vì thế đại sư Lý Hồng Chí mặc dù tu luyện nhiều năm, nhưng những người quanh ông cư nhiên không biết ông là người tu luyện. Bấy giờ nếu ông đánh nhau với những trẻ con đồng lứa, thì ông thường vô cớ bị đụng ngã, không đứng vững, và đôi khi chảy cả máu. Nếu trong tâm ông không phục, thì sẽ bất ngờ có nhiều đứa trẻ đến đánh, chừng nào ông phải chịu mới thôi, lúc ấy sư phụ của ông mới mỉm cười.
Tám tuổi, đột nhiên đại sư Lý Hồng Chí cảm thấy như trong mắt của mình có thêm thứ gì đó. Dần dần nhìn thấy rõ ràng ba chữ “Chân-Thiện-Nhẫn”, nhưng người khác nhìn không thấy, nhưng ông có thể nhìn thấy vào bất kỳ lúc nào. Sư phụ của ông bảo: Chân, chính là làm việc chân, nói lời chân, không lừa dối, không nói dối, làm mà sai thì không che đậy, tương lai sẽ đạt được “phản bổn quy chân”; Thiện, chính là có tâm từ bi, không bắt nạt người khác, cảm thông với kẻ yếu, trợ giúp kẻ yếu, lấy việc giúp người làm vui, làm nhiều việc tốt; Nhẫn, chính là khi gặp khó nạn, khi chịu khuất nhục, thì vẫn khoan dung, tâm vững vàng, không oán không hận, không nhớ báo thù, có thể chịu cái khổ trong khổ, có thể nhẫn được những việc mà người bình thường khó mà nhẫn nổi.
Từ lúc tám tuổi, đại sư Lý Hồng Chí đã có được đại thần thông. Chơi trốn tìm với các bạn, ông chỉ cần nghĩ “người khác không thể nhìn thấy tôi”, thì người khác sẽ không phát hiện ra ông, thậm chí có chiếu đèn pin trúng khuôn mặt của ông thì cũng không nhìn thấy. Đinh sắt gỉ lớn đóng vào cây gỗ, ông chỉ dùng tay kéo nhẹ là nhổ ra. Chơi tuyết với các bạn trẻ thì ông nhảy lên rất cao. Nếu thấy hai người đánh nhau, mà ông muốn một người nào đó không qua đó, thì người đó sẽ thấy là rất khó qua đó. Bốn năm tiểu học, có một lần để quên cặp sách ở trường, mà cửa trường đã khoá rồi, làm sao đây? Ông nghĩ muốn vào trong, thì đã lọt vào trong trường rồi, nghĩ thêm nữa, thì đã lấy cặp sách và ra khỏi trường rồi. Thuật loại “xuyên tường” này khiến ông rất ngạc nhiên. Có một lần ông nghĩ, không biết đứng ở trong kính thì có cảm giác thế nào nhỉ, thế thì vừa nghĩ một cái, ông đã lọt vào trong kính cửa sổ. Lập tức cảm thấy khắp thân khắp đầu là kính, quá khó chịu, bèn lập tức đi ra. Bấy giờ đại sư Lý Hồng Chí chưa biết cái gì gọi là công năng đặc dị, ông còn tưởng rằng ai ai cũng đều làm được như thế!
Đại sư Lý Hồng Chí từ nhỏ đã thích giúp đỡ người khác. Dù làm việc gì cũng trước tiên nghĩ cho người khác. Thấy trên đường có cục đá, e rằng người khác sẽ bị vấp, thì ông bèn bỏ nó đi. Lúc đến trường tiểu học, một lần trên đường đi học qua bờ hồ phía nam, nghe thấy người ta hô hoán “có người rơi xuống nước!” ông không nói không rằng để nguyên cả y phục nhảy xuống nước, nhanh chóng bơi đến bên người ta: “anh nín thở chút, đừng giãy, tôi sẽ cứu anh!” Người kia quả nhiên nghe theo. Đưa người kia vào bờ, ông mới phát hiện ra anh ta cao to hơn mình rất nhiều. Những việc cứu người diễn ra nhiều lần, nhưng đại sư Lý Hồng Chí không bao giờ đề cập với người khác. Từ bé đại sư Lý Hồng Chí đã có tâm từ bi. Mỗi khi xem trong phim truyền hình hoặc đọc trong sách thấy tình tiết có nhân vật làm người tốt nhưng phải chịu nạn chịu khổ, thì ông vẫn thường khóc.
Khi ông 12 tuổi, pháp sư Toàn Giác nói với ông: Sẽ có những vị sư phụ khác đến để truyền thụ những điều tinh hoa trong môn của mình. Đầu tiên là Bát Cực Chân nhân đến, rồi đưa đại sư Lý Hồng Chí tới một nơi vắng vẻ không người để truyền thụ nội ngoại kiêm tu trong môn Đạo gia của mình. Còn cùng ông luyện mã bộ và trạm trang. Ít nhất phải một giờ đồng hồ. Thường thường mồ hôi đầm đìa. Nhưng cơ thể được luyện đến mềm mại như bông. Qua từng đêm sâu vắng lặng, ở nơi không ai biết tới, hè qua đông lại, ngày lại qua ngày, hai bàn tay bất tri bất giác luyện đến chai sạn, y phục đẫm mồ hôi. Mà nỗ lực không phụ lòng người, ngay từ thuở thiếu thời, đại sư Lý Hồng Chí đã có công phu đạt đến cảnh giới thượng thừa của thế gian pháp.
Sau năm 1974, sư phụ Đại Đạo rời đi. Sau đó một vị nữ sư phụ bên Phật gia tới, chủ yếu là truyền thụ công lý và công pháp Phật gia. Quãng thời gian đó, đại sư Lý Hồng Chí mới 23, 24 tuổi, nhưng công lực đã đạt đến tầng thứ rất cao. Năm 1982, đại sư Lý Hồng Chí từ bộ đội chuyển ngành đến công tác ở thành phố Trường Xuân. Luyện công còn khắc khổ hơn nữa.
Trong mười mấy năm tiếp theo, hầu như mỗi lần đến một tầng thứ thì lại có một sư phụ mới, mỗi lần đến một tầng thứ thì đều phải trải qua một đợt khổ nạn. Rất nhiều ma nạn đều là người bình thường không thể tưởng tượng được. Trải qua mấy chục năm khắc khổ tu luyện, đại sư Lý Hồng Chí đã tu được tuyệt thế công phu. Không chỉ là công lực đạt đến tầng thứ cực kỳ cao, mà quan trọng hơn là đại sư Lý Hồng Chí nhìn thấy được Chân Lý của vũ trụ, nhìn thấy được trong vũ trụ từ lâu đã tồn tại rất nhiều những gì vô cùng tốt đẹp, nhìn thấy được nguồn gốc của nhân loại, sự phát triển của nhân loại, cũng như tương lai của nhân loại.
Pháp Luân Công là của đại sư Lý Hồng Chí
Mặc dù như thế, nhưng trong mắt của người ngoài, đại sư Lý Hồng Chí chỉ là một người rất bình thường, hướng nội và nhút nhát. Những đồng nghiệp chỉ là cảm thấy ông sống thật thà, thành thực, dễ gần. Đại sư Lý Hồng Chí không bao giờ tranh giành với người khác. Có người không hiểu, bèn nói ông là ngốc, cái đáng được thì không lấy, cái đáng có thì không cầm. Thực ra ông đã đến cảnh giới ấy, các loại dục vọng của người bình thường và những thứ lợi ích cá nhân đều không còn để trong tâm. Hết thảy đều thuận theo tự nhiên. Đạm bạc nhìn đời, an nhiên tĩnh tại. Thấy ông bị oan uổng hay trách cứ, người khác cảm thấy bất bình thay cho ông, nhưng ông chỉ nhẹ nhàng cười mà chẳng để tâm.
Trong giới tu luyện người ta vẫn giảng thế này. Chẳng hạn như một vị Phật sống chuẩn bị chuyển thế, vị Phật sống ấy bèn đưa công phu của mình truyền cho người tu luyện khác. Đến khi vị Phật sống ấy chuyển sinh, thì người tu luyện kia bèn chuyển phần công phu ấy trở lại vị Phật sống này. Đời này truyền qua đời khác theo cách như thế, người ngoài khó biết được rằng chủ nhân chân chính của pháp môn ấy đích thực là ai. Ngày 27-5-1996, đại sư Lý Hồng Chí viết trong bài “Cảnh Tỉnh”: “Thực ra những điều mà những sư phụ của tôi tại thế gian hôm nay truyền cho tôi, cũng là những gì ở những đời trước tôi đã hữu ý để họ đắc được, đợi khi duyên phận đến, an bài họ quay trở lại truyền cho tôi, từ đó khải ngộ toàn bộ Pháp của tôi.”
Như vậy, sau nhiều năm dài chuẩn bị, đại sư phụ Lý Hồng Chí bắt đầu chuẩn bị truyền xuất ra “Pháp Luân Đại Pháp” của mình. Trong «Chuyển Pháp Luân» đại sư Lý Hồng Chí viết: “Đạo gia tu luyện Chân Thiện Nhẫn, trọng điểm tu Chân; vậy nên Đạo gia giảng tu chân dưỡng tính, nói lời chân, làm điều chân, làm chân nhân, phản bổn quy chân, cuối cùng tu thành Chân Nhân. Nhưng cũng có Nhẫn, cũng có Thiện; [còn] trọng điểm rơi vào tu Chân. Trọng điểm của Phật gia rơi vào tu Thiện của Chân Thiện Nhẫn. Vì tu Thiện có thể tu xuất tâm đại từ bi; một khi xuất hiện tâm từ bi, thì [thấy] chúng sinh rất khổ, do vậy phát sinh nguyện vọng muốn phổ độ chúng sinh. Nhưng cũng có Chân, cũng có Nhẫn; trọng điểm rơi vào tu Thiện. Pháp môn Pháp Luân Đại Pháp của chúng ta chiểu theo tiêu chuẩn tối cao của vũ trụ—Chân Thiện Nhẫn đồng tu—[vậy nên] công chúng ta luyện rất to lớn.”
Thích hợp cho con người hiện đại tu luyện
Trước khi truyền Pháp, đại sư Lý Hồng Chí đã tiên liệu trước rằng tương lai sẽ có rất nhiều người theo học và luyện Pháp Luân Công. Để giảm thiểu can nhiễu đối với cuộc sống sinh hoạt của con người hiện đại, đại sư Lý Hồng Chí ngay từ đầu đã đặt cuộc sống của chính mình nằm trong cộng đồng dân chúng phổ thông. Bởi vì ông biết rằng học sinh của mình sẽ học tập bắt chước theo ông về đủ mọi phương diện. Khác với các khí công sư khác, đại sư Lý Hồng Chí không chuyên môn ăn chay, mà ăn vật thực như mọi người bình thường khác. Chỉ là ông không hề kén chọn đồ ăn. Ông cũng kết hôn sinh con.
1105280844101944.jpg
Tháng 3-1994, đại sư Lý Hồng Chí và học viên “lớp học tập Pháp Luân Công” Thạch Gia Trang (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
Năm 1991, đại sư Lý Hồng Chí 40 tuổi đã chuẩn bị truyền xuất Pháp Luân Công ra xã hội. Nhưng thực ra kể từ năm 1984, đại sư Lý Hồng Chí đã bắt đầu đưa Pháp Luân Công, pháp môn vốn vẫn đơn truyền qua các đời, truyền cho một số đồ đệ được chọn để bí mật tu luyện, đồng thời chỉnh sửa để trở thành môn công pháp có thể phổ cập cho con người hiện đại vốn có cuộc sống bận rộn. Đừng tưởng chỉ là một động tác duỗi căng ra kia thôi, nhưng ở không gian khác những gì diễn hoá và tu luyện xuất ra được đều vô cùng tinh mật, thiết kế vô cùng tinh tế, dẫu muốn cải biến một chút cũng không hề dễ dàng chút nào. Vì đây là Pháp của chính mình, đại sư Lý Hồng Chí mới có thể chỉnh sửa được. Truyền dạy công pháp ở xã hội hiện đại, thì người đến có tâm tính cao thấp khác nhau, căn cơ ngộ tính khác nhau, tố chất thân thể khác nhau, vậy làm thế nào để thật nhiều dân chúng đều có thể nhận được lợi ích về thân và tâm từ Pháp Luân Công? Đại sư Lý Hồng Chí đã bỏ bao tâm huyết giải được vấn đề ấy.
Năm 1989, khi công pháp đã thành hình, để đảm bảo không còn gì sơ sót, thật sự có trách nhiệm với xã hội, đại sư Lý Hồng Chí đã nhận một số đồ đệ trong phạm vi nhỏ. Trải qua hai năm quan sát, thấy những đồ đệ đều đạt tầng thứ rất cao. Ví dụ, trong các công pháp khác muốn đạt “tam hoa tụ đỉnh” thì phải mất mười mấy năm hoặc mấy chục năm, nhưng những đồ đệ của ông chỉ có hai năm đều đã đạt đến. Thể hiện ra sự cao cấp và kỳ diệu của công pháp Pháp Luân Công.
Chỉnh lại cho đúng hết thảy những trạng thái không ngay chính
Pháp Luân Công kiến lập trên cơ sở văn hoá tu luyện Trung Hoa mấy nghìn năm, vô cùng bác đại tinh thâm. Muốn hiểu Pháp Luân Công, cách tốt nhất là đọc nhiều lần cuốn sách «Chuyển Pháp Luân» một cách tĩnh tâm, không vướng bận bất kỳ quan niệm gì. Đại sư Lý Hồng Chí nói rằng ông đã đặt tất cả vào trong cuốn «Chuyển Pháp Luân» rồi. Giới thiệu ngắn gọn, Pháp Luân Công chính là tu luyện ba chữ “Chân-Thiện-Nhẫn”. Đặc điểm nổi bật nhất của công pháp này là đại sư Lý Hồng Chí sẽ gắn “Pháp Luân” cho mỗi học viên nào mà tu luyện Pháp Luân Công một cách chân chính. Pháp Luân là thể vật chất cao năng lượng có linh tính, xoay chuyển không ngừng, tồn tại trong không gian khác. Người tu chân chính đọc các kinh sách nguyên tác của Pháp Luân Đại Pháp, xem và nghe băng hình băng tiếng nội dung đại sư Lý Hồng Chí giảng Pháp, tập công theo các học viên Pháp Luân Công. Miễn là thật sự chân tu, thì ai cũng có thể miễn phí đắc được Pháp Luân vốn vô cùng trân quý này. Pháp Luân xoáy vào trong độ bản thân, hấp thu lượng lớn năng lượng từ vũ trụ, diễn hoá trở thành công. Pháp Luân xoáy ra ngoài độ nhân, phát phóng năng lượng, phổ độ chúng sinh, chỉnh lại cho đúng hết thảy những trạng thái không ngay chính, các sinh mệnh ở quanh người tu luyện đều được lợi ích. Do đó người tu luyện Pháp Luân Công có thể đạt được trạng thái “Pháp luyện người” liên tục tu luyện. Đây là Đại Pháp đề cao đạo đức đem lại lợi ích mà vô hại đối với người khác, đối với bản thân, và đối với xã hội.
Pháp Luân Công có một đặc điểm khác với tất cả các công pháp tu luyện khác. Đại sư Lý Hồng Chí trong «Chuyển Pháp Luân», nói: “Chính là vấn đề ai luyện công ai đắc công. Theo tôi thấy thì tất cả các công pháp hiện nay, bao gồm cả [công pháp] Phật gia, Đạo gia và Kỳ Môn công pháp từ lịch sử đến nay đều tu luyện phó nguyên thần (phó ý thức) của người ta, đều là phó nguyên thần đắc công.” Mà Pháp Luân Công là tu luyện chủ nguyên thần, yêu cầu học viên phải tự mình rõ ràng là mình tu tâm tính, bỏ chấp trước, thực tu thăng hoa, “để chính bản thân chư vị thật sự đắc công; đây là lần đầu tiên từ khi khai thiên tịch địa.”
Lớp học Pháp Luân Công đầu tiên
Ngày 13-5-1992, đại sư Lý Hồng Chí sinh nhật 41 tuổi (kế hoạch nguyên là một năm trước đó lẽ ra đã truyền Pháp Luân Công rồi) cuối cùng trải qua trùng trùng khó khăn, lớp học Pháp Luân Công đầu tiên đã mở ra ở trường Trung Học số 5 thành phố Trường Xuân. Theo “Hồi ký lớp học Pháp Luân Công kỳ thứ nhất ở Trường Xuân”, tác giả kể lại: lớp học Pháp Luân Công khoá đầu là ở giảng đường bậc thang của trường Trung học số 5, có 180 học viên tham dự. Sau đây là hồi ức của tác giả:
“Sư phụ giảng bài hết sức đúng giờ. Khi giảng bài không cần giáo trình, chỉ có một tờ giấy nhỏ. Sư phụ giảng Pháp xong thì bắt đầu dạy tập động tác. Lớp học đầu tiên, mỗi người một cuốn sách nhỏ “Pháp Luân Công”’, mười hai trang, nhỏ hơn một chút so với tạp chí hiện nay, trong đó là các đường nét vẽ các bài động tác luyện công. Khi Sư phụ dạy động tác là dùng tay uốn nắn các tư thế, vừa giảng dạy động tác, vừa thanh lý làm tịnh thân thể cho mọi người.
1105280844131944.jpg
Hình vẽ tay minh hoạ bài công pháp số 5 của Pháp Luân Công, thời đầu khi đại sư Lý Hồng Chí bắt đầu giảng giải Pháp Luân Công. (nguồn từ Minh Huệ Net)
Bấy giờ tôi chưa biết gì. Dự học mấy bài, thì thật sự thấy thân thể nhẹ nhàng, bước lên cầu thang tựa như có người nâng lên, đi bộ nhiều cũng không mệt. Mà cứ thích đi bộ thôi, đi xa mấy cũng không đi xe…
Thời đó có nhiều môn phái khí công lắm. Khi Sư phụ truyền công thì những vị được gọi là “khí công sư” kia cũng đến nghe, còn luyện cả các loại khí công nữa. Họ nói chuyện lớn tiếng ở giảng đường, như ruồi nhặng bay qua bay lại. Có một học viên mang theo bé gái mười mấy tuổi, và khi Sư phụ giảng bài thì cô bé cất tiếng oa oa khóc lớn nháo cả lên. Bài giảng của Sư phụ không tiếp tục được. Có một vị “khí công sư” nào đó đứng ra rồi tiến đến xử lý, tỏ thái độ như muốn thể hiện tài năng của mình cho mọi người, nhưng kết quả không được. Rồi lại có hai, ba vị “khí công sư” giơ tay làm động tác một chặp, vẫn không ăn thua. Chỉ thấy Sư phụ từ bục giảng bước đến, vỗ khẽ trên đầu bé gái ba cái, thế là bé lập tức thôi khóc. Cả hội trường xôn xao một lúc, rồi tiếp đó là một tràng pháo tay. Với những can nhiễu về sau, Sư phụ chỉ dùng tay gõ lên bàn giảng một chút là mọi thứ lại bình tĩnh…
Sau khi lớp học kỳ thứ nhất kết thúc, trên thân thể tôi có hai điều kỳ lạ rất rõ. Thứ nhất là tôi bị ngã dù đi ở đất bằng. Không bị đụng không bị vấp nhưng cứ ngã vập đầu xuống đất, liền cả mười mấy lần liên tiếp. Nhưng không đau, không sưng hay thương tích gì. Một cách vô ý tôi đã phát hiện rằng Sư phụ trị bệnh cho tôi. Nguyên lai tôi bị viêm sụn xương sườn, xương sườn lệch ra, khiến thân thể không ngay thẳng. Lần bị ngã sấp ấy khiến thân thể tôi ngay thẳng trở lại, xương cốt cũng bình thường trở lại. Chuyện thứ hai là tôi về nhà luyện tĩnh công, ngồi đơn bàn, ngồi đả toạ trên mặt đất. Vừa nhắm mắt lại, thân thể tôi quay vòng vòng khắp phòng. Mông và chân vẫn chạm đất thôi, nhưng cứ như là mọc thêm chân vậy. Mở mắt ra thì đã thấy di chuyển sang phía bên kia của phòng rồi. Qua một hồi thì lại chuyển trở về. Cứ như thế hơn hai mươi ngày. Khi tập đông tác “lưỡng trắc bão luân” bài số 2, thì đầu xoay chuyển như đèn cù, trong tai nghe như có đánh trống. Nhưng hễ hạ tay xuống thì đầu cũng ngừng xoay, trong tai cũng yên lặng trở lại. Nguyên lai tôi có đốt xương cổ số 3 ép vào dây thần kinh, khiến tôi đau đầu lắm. Qua như thế thì bệnh của tôi đã khỏi…
Mới luyện Pháp Luân Công chưa đến một nửa thời gian, mười mấy bệnh nặng của tôi đã khỏi, thiên mục cũng khai mở. Hơn nữa, một người luyện công, cả nhà được lợi ích! Con gái tôi từng bị khối u tuyến yên. Sau khi phẫu thuật bác sĩ cho biết khả năng sinh sản thấp. Kết hôn tám năm vẫn chưa có con. Từ khi tôi luyện công, con gái của tôi đã sinh con gái, toàn gia đình cảm thấy vô cùng hạnh phúc, đều ca ngợi Đại Pháp diệu kỳ. Đứa trẻ rất thông minh, ba tuổi rưỡi đã biết đọc «Chuyển Pháp Luân», hết sức kính trọng Sư phụ. Hiện nay cháu đã học trung học rồi, kết quả học tập rất tốt. Chứng kiến hết thảy những gì Sư phụ làm cho chúng tôi, tôi bắt đầu hiểu được rằng Sư phụ truyền công chính là “không giảng điều kiện, không giảng giá cả, không kể hồi báo, cũng không lưu danh”, “hoàn toàn xuất phát từ tâm từ bi”. ”
56 lớp học Pháp Luân Công toàn quốc
Trước khi mở lớp học Pháp Luân Công đầu tiên, Hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc, dựa trên cơ sở khảo sát cẩn thận, đã hoàn toàn khẳng định công lý và công pháp của Pháp Luân Công, và tiếp nhận Pháp Luân Công vào trong các công phái trực thuộc. Ngay từ đầu, đại sư Lý Hồng Chí đã làm rất ngay chính. Từ 13-5-1992 đến 30-12-1994, đại sư Lý Hồng Chí đã mở lớp giảng dạy 56 lớp học Pháp Luân Công ở Trung Quốc, trên 60 nghìn học viên tham gia. Tên chính thức của lớp học là “Pháp Luân Công truyền Pháp diện thụ ban” (lớp truyền Pháp và hướng dẫn học Pháp Luân Công), đều là do quan viên địa phương của Hiệp hội Khí công đứng ra tổ chức, và nhân viên của Hiệp hội Khí công thu xếp địa điểm, bán vé (thẻ học viên), trả thuế, v.v. Họ trích lấy đến 40% thu nhập. Còn lại 60% là để đại sư Lý Hồng Chí dùng để chi phí cho đi lại, ăn ở, in ấn tài liệu, chi trả cho những nhân viên công tác đi cùng theo, v.v.
1105280844161944.jpg
Thẻ học viên do Hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc làm cho lớp học Pháp Luân Công đầu tiên. Dòng chữ trên thẻ: “Pháp Luân Công Trung Quốc”, “Học Viên Chứng” (thẻ học viên), “Trung Quốc Khí công Khoa học Nghiên cứu Hội” (Hội Nghiên cứu Khoa học Khí công Trung Quốc), “Công lý công pháp Uỷ viên Hội” (Hội thành viên công lý công pháp) Ngay từ đầu đại sư Lý Hồng Chí đã làm rất đường đường chính chính. (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
Thời bấy giờ ở Trung Quốc người ta lưu hành lối báo cáo kể công. Các khí công sư cần tự thân phóng ra công mạnh mẽ chữa bệnh cho người khác, tiêu hao rất nhiều năng lượng và công lực. Một vị khí công sư bình thường lên lớp sẽ thu mỗi học viên 100 đồng (nhân dân tệ) mỗi ngày, ít nhất cũng là 50 đồng. Nhưng đại sư Lý Hồng Chí mỗi lớp học diễn ra 9 đến 10 ngày, mà chỉ thu tổng cộng mỗi học viên 40 đồng tất cả; mà học viên cao tuổi, giảm giá một nửa, chỉ thu 20 đồng. Hiệp hội Khí công ở một số địa phương không thích thu phí quá thấp, đôi lúc còn phàn nàn với đại sư Lý Hồng Chí, nhưng đại sư Lý Hồng Chí vẫn kiên trì chỉ thu phí thấp. Thường xuyên đi các nơi như thế, đại sư Lý Hồng Chí về cơ bản không còn dư lại thu nhập gì cho bản thân mình.
Những năm ấy đại sư Lý Hồng Chí đã đích thân giảng dạy Pháp Luân Công tại tổng cộng 23 thành phố, tỉnh: Trường Xuân, Bắc Kinh, huyện Quan thuộc tỉnh Sơn Đông, Thái Nguyên, Vũ Hán, Quảng Châu, thành phố Lâm Thanh thuộc tỉnh Sơn Đông, Quý Dương, Tề Tề Cáp Nhĩ, Trùng Khánh, Hợp Phì, Thiên Tân, Khẩn Lợi thuộc tỉnh Sơn Đông, Lăng Nguyên thuộc tỉnh Liêu Ninh, Thạch Gia Trang, Đại Liên, Cẩm Châu, Thành Đô, Trịnh Châu, Tế Nam, thành phố Sâm Châu thuộc tỉnh Hồ Nam, Cáp Nhĩ Tân, thành phố Duyên Cát thuộc tỉnh Cát Lâm. Thượng Hải (thành phố hiện đại và lớn nhất Trung Quốc) không có lớp nào. Bắc Kinh (thủ đô Trung Quốc) tổ chức được 13 lớp, là nơi mở lớp nhiều nhất. Trường Xuân có 7 lớp, và Quảng Châu 5 lớp. Tiếp đó, 60 nghìn học viên như những hạt giống đã nhanh chóng đưa Pháp Luân Công truyền khắp toàn Trung Quốc.
1105280844201944.jpg
Tháng 7-1994, đại sư Lý Hồng Chí ở lớp học Pháp Luân Công thứ hai tại Đại Liên, Trung Quốc. (hình ảnh của Minh Huệ Net)
Tháng 4-1993 cuốn sách «Pháp Luân Công Trung Quốc» của đại sư Lý Hồng Chí được nhà xuất bản Hữu nghị và Văn hoá Quân đội (Quân sự Nghị Văn xuất bản xã) xuất bản và phát hành. Tháng 9-1994 băng hình hướng dẫn tập công do đại sư Lý Hồng Chí đích thân làm mẫu được Trung tâm Nghệ thuật Điện ảnh Bắc Kinh (Bắc Kinh Điện thị Nghệ thuật Trung tâm) phát hành. Bấy giờ về thân thể và tinh thần thì người tu luyện có được thăng tiến cực kỳ to lớn. Qua bạn bè thân quyến, rồi lưu truyền trong dân chúng, Pháp Luân Công phát triển bừng nở khắp nơi như nấm mọc sau mưa.
1105280844231944.jpg
Tháng 11-1997 đại sư Lý Hồng Chí giảng Pháp tại trường tiểu học quốc lập Tam Hưng, Đài Bắc, Đài Loan. (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
1105280844271944.jpg
Một cảnh đại sư Lý Hồng Chí cùng những học viên của mình ở New York Mỹ quốc, sau 1999 (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
Ngày 13-3-1995, nhận lời mời của Đại sứ quán Trung Quốc ở Pháp, đại sư Lý Hồng Chí đã cử hành một hội báo cáo giảng Pháp tại Sứ quán Trung Quốc ở Paris, cũng như lớp học Pháp Luân Công đầu tiên ở hải ngoại. Vậy là Pháp Luân Công chính thức bắt đầu truyền ra nước ngoài. Ngày 14-4 cùng năm đó, đại sư Lý Hồng Chí đã đến Gothenburg, Thụy Điển, cử hành lớp học Pháp Luân Công thứ hai ở hải ngoại. Từ đó về sau, đại sư Lý Hồng Chí chỉ giảng Pháp, không truyền thụ công pháp nữa. Học viên học công đều là chiểu theo băng thu hình, sách, hoặc học ở các điểm luyện công. Ngay từ khi bắt đầu Pháp Luân Công luôn nhấn mạnh rằng việc tu luyện là hoàn toàn tự nguyện. Pháp Luân Công không có bất kể cơ cấu tổ chức nào mà ước thúc người ta. Không có văn phòng, không lập danh sách, không bắt buộc bất kỳ ai tu luyện. Người tu luyện gia nhập hoặc rời đi một cách tự do. Trạm phụ đạo các nơi cũng chỉ là hoạt động tình nguyện phục vụ cộng đồng mà thôi, không có lợi nhuận hay thu nhập gì, chỉ là tình nguyện cống hiến.
1105280844311944_1.jpg
Tháng 4-1995, đại sư Lý Hồng Chí đang dạy động tác ở Gothenburg, Thụy Điển. (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
Những bài báo cáo tích cực ở Trung Quốc
Từ tháng 5-1992 đến tháng 7-1999, trong thời gian bảy năm, theo một cuộc điều tra nội bộ của Bộ Công an Trung Quốc, số học viên Pháp Luân Công ở Trung Quốc đạt đến khoảng 70 triệu đến 100 triệu người. Các phương tiện truyền thông ở Trung Quốc có nhiều bài báo cáo tích cực về Pháp Luân Công. Ví dụ: Tháng 1-1996, tờ báo “Thanh niên Bắc Kinh” liệt kê cuốn «Chuyển Pháp Luân» là một trong 10 đầu sách bán chạy nhất Bắc Kinh. Ngày 17-3-1997, tờ “Đại Liên nhật báo” đăng bài “Cụ già vô danh âm thầm cống hiến”, kể về câu chuyện một cụ già cổ lai hy vì học Pháp Luân Công đã âm thầm tu sửa hơn 1100 mét đường cho địa phương. Ngày 21-2-1998, tờ báo “Tin chiều Đại Liên” đăng bài về học viên Pháp Luân Công ở Học viện Chiến hạm Hải quân Đại Liên cứu một em bé ba tuổi khỏi chết đuối ở sông đóng băng 3 mét tại Đại Liên thuộc tỉnh Liêu Ninh. 19-7-1998, “Thời báo Kinh tế Trung Quốc” đăng bài “Tôi đứng dậy rồi!” kể về một phụ nữ tên là Tạ Tú Phân ở Hàm Đan tỉnh Hà Bắc vốn bị bại liệt từ năm 16 tuổi nhưng sau khi luyện Pháp Luân Công đã khỏi và đi lại được.
Ngày 10-11-1998, tờ “Tin chiều Dương Thành” đăng bài “Già trẻ đều luyện Pháp Luân Công” kể về điểm luyện công rất lớn ở công viên Liệt sỹ Quảng Châu có tới 5000 người theo học Pháp Luân Công. Trong đó có câu chuyện về nhân viên thống kê Lâm Thiền Anh thuộc Công ty TNHH Bì Cách Quảng Châu từng bị bại liệt mức cao với 70% cơ thể tê bại nay đã khỏi và đi lại được sau khi luyện Pháp Luân Công. Ngày 24-11-1998, truyền hình Thượng Hải đăng tin rằng Pháp Luân Công đã truyền khắp bốn châu lục Âu Mỹ Á Úc, đạt con số 100 triệu người đang luyện Pháp Luân Công. Ngày 4-3-1999, tổng trạm phụ đạo Pháp Luân Công ở thành phố Cáp Nhĩ Tân thuộc tỉnh Hắc Long Giang được Cục Công an Cáp Nhĩ Tân bình chọn là đơn vị tiên tiến “không nhặt của rơi”.
2001-2-3-12583.jpg
10-11-1998, tờ “Tin chiều Dương Thành” đăng bài về điểm luyện công lớn với 5000 người tập luyện Pháp Luân Công tại Quảng Châu; trong đó có một phụ nữ bị bại liệt mức cao đã khỏi bệnh sau khi học Pháp Luân Công (hình ảnh từ Minh Huệ Net)
Năm 1999, khủng bố đại vương từ trời giáng xuống
Nhưng chỉ vì lượng người học và luyện Pháp Luân Công nhiều hơn đảng viên ĐCSTQ, nên tổng bí thư đảng đương nhiệm, ông Giang Trạch Dân, đã bất kể sự phản đối của các thường uỷ khác trong Bộ Chính trị, quyết định phát động cuộc đàn áp Pháp Luân Công, sau sự kiện một vạn học viên Pháp Luân Công đi thỉnh nguyện ngày 25-4-1999. Chỉ có điều là từ năm 1998, đại sư Lý Hồng Chí đã định cư ở Hoa Kỳ theo chương trình “nhân tài kiệt xuất”, ông và gia đình tới định cư ở New York.
Ngày 20-7, rất nhiều phụ đạo viên Pháp Luân Công bị bắt giam, ngày 22-7, ĐCSTQ chính thức tuyên bố cấm Pháp Luân Công. Trong bài “Một lời tuyên bố ngắn của tôi”, đại sư Lý Hồng Chí viết: “Tôi là một người trong giới tu luyện, vẫn luôn không liên quan gì tới quyền lực chính trị. Tôi chỉ là dạy người ta tu luyện. Một người muốn luyện công cho tốt thì ắt phải có đạo đức cao thượng. Thực tế cũng là tôi làm được điều ấy, giúp một trăm triệu người làm người tốt, làm người tốt hơn nữa.” Nhưng ĐCSTQ phớt lờ điều ấy, vẫn cứ khai đao nhắm vào hơn 100 triệu dân chúng.
“Tháng 7-1999, khủng bố đại vương từ trời giáng xuống” — đây là lời tiên tri của nhà tiên tri nổi tiếng Nostradamus thế kỷ 16 của Pháp đã từng viết trong tác phẩm “Các thế kỷ” (Centuries) của mình, tác phẩm làm con người hàng trăm năm sau phải thán phục vì những tiên đoán thần kỳ và chính xác trong đó.

Lịch sử minh chứng thanh danh cho đại sư Lý Hồng Chí

Bài của Tề Tiên Dữ
1105280844401944_1.jpg
15-6-1999, đại sư Lý Hồng Chí. (hình ảnh của AFP/GettyImages)
Thời kỳ đầu cuộc đàn áp Pháp Luân Công, ĐCSTQ vì để có lý do cho cuộc đàn áp, đã chụp rất nhiều “tội danh” lên đại sư Lý Hồng Chí. 12 năm đã trôi qua, chúng ta hãy nhìn lại lịch sử, sáng tỏ sự thật, trả lại thanh danh cho đại sư Lý Hồng Chí.
Thanh danh cho đại sư Lý Hồng Chí
ĐCSTQ tuyên bố: “Tại sao Lý Hồng Chí đổi ngày sinh của mình từ 7-7-1952 thành 13-5-1952? Mục đích là để nói rằng bản thân mình là Phật Thích Ca Mâu Ni chuyển sinh.”
Đại Sư Lý Hồng Chí đã nói rõ: “Trong thời Cách mạng Văn hóa, chính quyền đã in sai ngày tháng sinh của tôi. Tôi chỉ sửa chữa lại cái ngày tháng in sai thành đúng mà thôi.” Một người dân ở Trung Quốc Đại Lục từng nói rằng, toàn cầu có 7 tỷ người, mỗi năm có 365 ngày, trung bình có hàng chục triệu người ứng với mỗi ngày sinh nhật, mà trong đó có đủ loại người, vậy thì trùng ngày sinh nhật nào có gì để nói ở đây? Xưa nay Pháp Luân Công không hề đề cập tới quan hệ với Phật Thích Ca Mâu Ni. Nếu là giả mạo sinh nhật, thì mất công sửa đổi như thế cũng không có tác dụng gì, sao phải lãng phí công sức như thế chứ? Đó chỉ là vu khống hết sức vô nghĩa của ĐCSTQ mà thôi.
ĐCSTQ tuyên bố là đại sư Lý Hồng Chí trốn thuế, và xuất bản lậu các tác phẩm sách, băng hình, băng tiếng về Pháp Luân Công, rằng ông “điên cuồng kiếm tiền bất chính”. Thực ra khi cuốn “Chuyển Pháp Luân” của đại sư Lý Hồng Chí được xuất bản ở Trung Quốc Đại Lục, thì toàn bộ tiền bản quyền mà tác giả thu được chỉ có hơn 20.000 nhân dân tệ. Rất nhiều dân chúng biểu thị rằng, thời Trung Quốc Đại Lục có 100 triệu học viên công khai học Pháp Luân Công, thì chỉ cần đại sư Lý Hồng Chí bảo mỗi người nộp 1 nhân dân tệ học phí, thế thì đại sư Lý Hồng Chí đã có 100 triệu nhân dân tệ rồi. Còn nếu mỗi học viên nộp 10 nhân dân tệ, thì đại sư Lý Hồng Chí lập tức thành tỷ phú. Tuy nhiên như mọi người đều biết tu tập Pháp Luân Công xưa nay đều là miễn phí, và có thể download tất cả tài liệu một cách miễn phí từ Internet, gồm cả sách, băng tiếng, băng hình. Miễn phí như thế phải chăng là “tự cắt đứt nguồn thu” của chính mình?!
Trong hơn mười năm qua, có nhiều học viên Pháp Luân Công viết ra hồi ức của họ. Trong đó hình ảnh sư phụ Lý Hồng Chí ăn mặc rất bình thường, cuộc sống của gia đình vẫn rất nghèo. Đại sư Lý Hồng Chí không có nhiều quần áo cho mùa hè, sau khi giảng bài xong, thường giặt và phơi quần áo và ban đêm đề ngày hôm sau mặc. Thực phẩm cũng là vấn đề tiêu tốn nhất. Thông thường hàng mười mấy ngày liền ngày nào cũng ăn mỳ gói. Thời ban đầu khi đại sư Lý Hồng Chí đến Bắc Kinh, là ngủ ở cầu, và trải qua đủ loại phong sương vất vả.
ĐCSTQ vu khống rằng đại sư Lý Hồng Chí cùng gia quyến sống xa hoa ở Trường Xuân. Nhưng điều tra qua dân chúng thì được biết, gia đình đại sư Lý Hồng Chí ở số 103 đại lộ Giải Phóng, cổng phía tây của nhà chung cư 4 tầng cũ nát. Mặc dù có rất nhiều người trên thế giới mà được lợi ích từ Pháp Luân Công muốn gửi quà để biểu đạt lòng tôn trọng, nhưng đại sư đều từ chối.
1105280844441944.jpg
Căn hộ xưa của đại sư Lý Hồng Chí và mẹ ở Trường Xuân, trong nhà chung cư bốn tầng rất bình thường và cũ kỹ (ảnh bên trái). Cửa vào nhà bị niêm phong với tờ niêm phong 1999 (ảnh bên phải). Ảnh do người dân Trung Quốc Đại Lục cung cấp giữa tháng 3, 4 năm 2000. (ảnh của Minh Huệ Net)
Vấn đề uống thuốc
Về vấn đề dùng thuốc, đại sư Lý Hồng Chí nói rõ: “Có nguồn tin nói rằng tôi cấm người ta dùng thuốc. Sự thật, điều đó hoàn toàn không đúng. Tôi chỉ giải thích sự liên hệ giữa tu luyện và việc dùng thuốc. Tôi đã giúp cho hơn 100 triệu người đạt được sức khỏe. Vô số người bệnh nặng đã được lành bệnh và trở nên khỏe mạnh. Điều đó là một sự thật. Còn đối với những người bệnh quá trầm trọng và người mắc bệnh tâm thần, tôi luôn khuyên họ không nên học Pháp Luân Công. Nhưng một số người tuy vậy vẫn cưỡng cầu học nó mà không cho tôi biết. Trường hợp như thế đó, bệnh nhân phải chết vì bệnh của họ mà lại cho là đệ tử của tôi thì có công bằng không? Tôi chưa bao giờ nghe nói có những người không được săn sóc đến mà sẽ không chết chỉ nhờ họ học được một vài động tác. Như nói rằng, vì các nhà thương có thể chữa được bệnh, điều đó phải chăng có nghĩa là trong nhà thương sẽ không có ai phải chết cả?”
Có người từng ước tính thô thế này. Cứ theo tỷ lệ tử vong trung bình ở Trung Quốc là 0,65% hàng năm, thì Trung Quốc với 1 tỷ dân sẽ có hơn 4 triệu người tử vong một cách bình thường trong vòng 7 năm (từ 1992 đến 1999). Theo giới chức Trung Quốc điều tra năm 1998 ở một số điểm luyện công, số học viên học Pháp Luân Công trước từng có bệnh là 10.475 người, sau khi học đã có hiệu quả chữa bệnh chiếm 41,5%, về khỏi bệnh về cơ bản chiếm 36%, và khỏi hoàn toàn chiếm 20,4%, như vậy tổng cộng là 97,9%, còn lại 2,1% là không cảm thấy chuyển biến gì. Những con số đó chẳng phải thuyết minh rằng Pháp Luân Công có hiệu quả cao về chữa bệnh khoẻ người?
Sự kiện thỉnh nguyện ngày 25-4-1999 ở Trung Nam Hải
ĐCSTQ, khi vu cáo đại sư Lý Hồng Chí, thường xuyên đề cập đến sự kiện có trên 10 nghìn học viên đến Trung Nam Hải, nơi tập trung các quan chức ĐCSTQ, vào ngày 25-4-1999, và lấy đó làm “bằng chứng” rằng đại sư Lý Hồng Chí “điều động” các học viên từ xa. Thực ra các học viên tham dự thỉnh nguyện đó đều nói, hành vi ấy của họ là tự nguyện và đúng theo quyền công dân mà Hiến pháp bảo vệ. Một vị nói: “Pháp Luân Công đã cứu đời tôi, mà bây giờ có người vu khống Sư phụ, tôi nếu chẳng lên tiếng thỉnh nguyện, thì tôi chẳng còn lương tâm nữa! Người Hoa có câu “nhận ân một giọt, báo ân một dòng”, phàm là người tôn trọng sự thật thì đều bước ra nói lời công bằng. Hàng trăm triệu người tu tập Pháp Luân Công, những ai nhận lợi ích từ Pháp Luân Công đều nên bước ra thỉnh nguyện, chứ im lặng thì chính là giúp đỡ cho vu khống hoành hành!”
Theo nhân viên nội bộ công an tiết lộ, ngày 25-4-1999 cảnh sát đã chặn các ngả đường chính, không để các học viên Pháp Luân Công vào đường Phủ Hữu gần đó, nơi có phòng thỉnh nguyện quốc gia. Cái được gọi là “bao vây Trung Nam Hải”, thực ra là cái bẫy chính trị và luật pháp: cảnh sát đã dẫn hướng học viên Pháp Luân Công “bao vây” Trung Nam Hải. Hôm ấy hơn 10 nghìn quần chúng Pháp Luân Công trật tự đứng ở đó, vỉa hè đường phố, không ảnh hưởng đến luồng xe đi dưới đường, và sau khi sự kiện qua đi, đường phố vẫn sạch sẽ, không mảnh giấy rác hay đầu thuốc lá.
Hiện nay người dân Trung Quốc phần đông công nhận rằng, sự kiện thỉnh nguyện 25-4 đã đánh thức nhân dân, là một tiến bộ lịch sử, bởi vì sự kiện này đã nêu cao giá trị “Chân-Thiện-Nhẫn” chính thống của con người. Con người vì muốn ngăn chặn hành động xấu xa nên đã bước ra, ấy là nghĩa cử bảo vệ sự công chính đạo nghĩa của xã hội, là tinh thần đáng trân quý nhất của con người.
“Làm chính trị”
Chính trị là việc của quần chúng, ở những nước cộng hoà nhân dân thì dân chúng nói chung đều tham dự vào chính trị. Nhưng ở Trung Quốc thì tham dự vào chính trị, hay “làm chính trị”, trở thành một cái mũ mang tính phản diện: chỉ có đảng viên ĐCSTQ mới có đặc quyền làm chính trị, còn những người khác đều bị tước đoạt quyền này. Pháp Luân Công nhiều lần nói rõ rằng người tu luyện không tham dự chính trị. Tựa như Chúa Jesus từng nói với người La Mã rằng, ông cần là thiên đường chứ không phải thế giới con người.
Thực chất của vấn đề là: ĐCSTQ bức hại Pháp Luân Công, ít nhất có 3.436 học viên Pháp Luân Công được báo cáo là bị bức hại đến chết, ngoài ra có hàng chục nghìn học viên Pháp Luân Công bị mổ cướp tạng. Trong bối cảnh đó, Pháp Luân Công bước ra vạch trần sự thật cuộc đàn áp, thế là ĐCSTQ bèn chụp cho cái mũ “làm chính trị”, giữa cực hình tra tấn và “làm chính trị” thì rốt cuộc cái nào cần bị lên án?
Trạng thái người thường ‘ngộ trong mê’ là không thể bị phá hoại
Đại sư Lý Hồng Chí nhiều lần giảng rằng học viên Pháp Luân Công không được phá hoại trạng thái xã hội người thường. Trời đã an bài cho con người hoàn cảnh sống này, tức là sống trong ‘mê’ này, không nhìn thấy chân tướng ở không gian khác, khiến con người trả nợ nghiệp khi sống trong sinh-lão-bệnh-tử. Giả sử ai ai cũng mở thiên mục, thấu thị nhân thể, cách tường khán vật, ai ai cũng bay lơ lửng trên không, thế thì có còn là xã hội nhân loại nữa không? Nghiêm trọng phá hoại trạng thái xã hội nhân loại là tuyệt đối không được phép. Nếu mọi người ai ai cũng sống thoải mái không bệnh không khổ, thế thì chẳng phải đã là ở thiên đường rồi?
Không biết trời cao dất dày
Đại sư Lý Hồng Chí đưa đến lợi ích sức khoẻ cho hàng trăm triệu người. ĐCSTQ không thể một tay che cả bầu trời. Lịch sử đang minh oan cho đại sư Lý Hồng Chí.
1105280844481944.jpg
Những người tôn trọng sự thật đã thấy rằng đại sư Lý Hồng Chí đưa lại lợi ích sức khoẻ cho hàng trăm triệu người. (ảnh từ Minh Huệ)
****************************************

Người đến vì các vị là ai?

Bài của Vương Hoa
Mấy năm trước một người từ Trung Quốc đã viết trong thiệp mừng sinh nhật đại sư Lý Hồng Chí:“Nếu một bác sỹ chữa khỏi bệnh hiểm nghèo cho tôi, tôi sẽ ghi nhớ vị ấy suốt đời. Nếu một bậc thầy dạy cho tôi ý nghĩa chân chính của cuộc đời, tôi sẽ vĩnh viễn tôn trọng vị ấy. Nếu một người cứu thoát tôi bên bờ huỷ diệt, tôi sẽ đời đời nhớ ân đức của vị ấy. Ngài chính là vị ấy!” Những lời ấy đã nói lên cái tâm của hàng trăm triệu học viên Pháp Luân Đại Pháp.
Đường Bái Kiều, một trong những người đứng đầu hoạt động dân chủ ngày 4-6-1989, đã có lời phát biểu nhân ngày Đại Pháp thế giới 13-5 năm nay, biểu thị nhận thức của những người không tập Pháp Luân Công. Ông nói rằng về phương diện phục hồi đạo đức thì Pháp Luân Công ở Trung Quốc đã vượt qua bất kể một tập thể nào khác, hơn nữa, phương thức hoà bình phi bạo lực của các học viên Pháp Luân Công làm cảm động nhân dân toàn thế giới. Chẳng hạn như phong trào thoái đảng, nó thực sự phát huy tác dụng thay đổi lòng dân. Đối mặt với cuộc đàn áp chưa từng có, dù trong khó khăn như thế Pháp Luân Công vẫn làm được rất là tốt, đó là kỳ tích và vinh quang, vẫn luôn được những nhà lịch sử nghiên cứu kỹ.
Đại sư Lý Hồng Chí là một vĩ nhân được mọi người mọi nơi tôn kính. Đối với những ai không tin Thần Phật, thì thảo luận tạm kết thúc ở đây, vì phần thảo luận tiếp theo vượt qua nhìn nhận mà người không tin Thần Phật có thể tiếp thu. Thực ra thì trên 70% nhân loại là có tín ngưỡng tôn giáo, trong tâm tin vào Thần Phật. Đại sư Lý Hồng Chí là một vị “Thánh Nhân”, một vị “Giác Giả”. Tờ “Tân Kỷ Nguyên” số 70 có bài “Những tiên tri ám chỉ về Pháp Luân Công” đã dẫn ra nhiều tiên tri, cho thấy rằng trong Kinh Phật, Kinh Thánh, cũng như trong những tiên tri của Pháp, Hàn Quốc, hoặc của Lưu Bá Ôn, tức là tiên tri cả trong ngoài nước Trung Quốc xưa nay, người ta đều có tiên tri rằng đến thời nhân loại mạt thế sẽ có Chúa Cứu Thế, có Cứu Thế Chủ hạ phàm cứu độ con người thế gian, như hoa Ưu Đàm tái hiện, Thần đến thế gian, tất cả đều chỉ về một người, người đến đây vì mọi người…
Lịch sử cũng giống như một giáo viên kiên nhẫn. Người Do Thái nhìn nhận rằng bản thân họ là con dân của Thượng Đế, bấy giờ họ không tin rằng Chúa Jesus là con của Thượng Đế và họ bức hại Chúa Jesus. Con người biết được bao nhiêu chứ, khi một vị Cứu Thế Chủ mới giáng hạ xuống nhân gian, thì Ngài có chiểu theo tưởng tượng của con người mà an bài những việc mình làm hay không? Tuyệt đối sẽ không. Trong vũ trụ này vĩnh viễn sẽ là Thần quyết định con người, chứ không phải con người quyết định Thần. Người mà ngông cuồng tự đại thì chính là tự huỷ hoại mình. Đạo lý đơn giản như thế, nhưng mà đến thời mạt Pháp, rất nhiều quan niệm của con người đã biến dị, và nhân loại vẫn mãi không rút ra được bài học lịch sử ấy.
Tháng 4-1999, vào một ngày mưa gió, đại sư Lý Hồng Chí trong buổi trả lời phỏng vấn của tờ Times có biểu đạt rằng ông biết những gì sẽ phát sinh, biết được sức chịu đựng của con người, nhưng nếu ông mà nói ra những gì người ta thấy quá lạ, thì sẽ không ai tin. Ông nói rằng nhân loại nay đúng vào thời kỳ loạn thế. Thời loạn là vì sao? “Tất nhiên, lý do không chỉ có một. Nguyên nhân lớn nhất khiến xã hội hôm nay trở nên xấu là vì con người không còn tin vào chính giáo nữa. Người ta đến giáo đường, nhưng không còn tin vào Thượng Đế. Họ sẵn lòng làm bất kể điều gì. Nguyên nhân thứ hai là từ đầu thế kỷ này, người hành tinh khác bắt đầu thâm nhập vào tư tưởng của con người cũng như hình thái ý thức và văn hoá.”
Mặc dù chưa phải đến lúc cuối, nhưng mấy năm gần đây người ta đã dần dần không ngừng nhận ra cái nhìn sâu sắc của đại sư Lý Hồng Chí.
Nhưng vẫn có những người hoàn toàn không tin. Đại sư Lý Hồng Chí cho biết, không nói đến ông là ai, không quan tâm ông từ đâu đến, thì con người tương lai đều sẽ thấy được ông thành tựu là gì, và con người sẽ thấy được việc này đều do ông làm. Chọn ngày sinh nhật làm ngày truyền xuất ra Pháp Luân Đại Pháp, đại sư Lý Hồng Chí nói:“Đời này của tôi chính là đến đây để truyền Pháp này”, “Tôi không muốn nhìn thấy bất kể sinh mệnh nào huỷ hoại chính mình, cho nên tôi đã đến đây vì chư vị!”.
*  *  *  *  *
Dịch từ nguyên bản tiếng Trung:
http://www.epochtimes.com/b5/11/5/28/n3270111p.htm

Ngày đăng: 14-08-2011
Các bài khác