Thứ Hai, 27 tháng 2, 2012

Vị lai bát quái phương vị


Vị lai Bát quái phương vị (Phần 1)
Tác giả: Tiểu Nham
bk.jpg
[Chanhkien.org]
(I) Lời mở đầu và nguyên do
1. Lời mở đầu
“Vị lai Bát quái phương vị”, mọi người nghe thấy danh từ này có thể cảm thấy rất kỳ quái. Có lẽ tất cả độc giả hiểu được «Kinh dịch» đều đã biết về “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Tôi xác thực đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả là vô cùng chấn động nhân tâm, do đó tôi mới cắt ngang kế hoạch sáng tác để thêm vào đây một loại bài với tiêu đề có chút cổ quái này. Nguyên kế hoạch của tôi là trong loạt bài “Lịch sử quan của tôi” sẽ thảo luận về “Tiên thiên Bát quái phương vị”, “Hậu thiên Bát quái phương vị” và quan hệ tương hỗ trong một giai đoạn lịch sử. Do tôi đã đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, hơn nữa kết quả cho thấy những thông tin khá quan trọng, nên loạt bài này nhất định phải chen vào. Thưa quý độc giả, nếu kiên nhẫn đọc hết loạt bài này, có thể các bạn sẽ đồng tình với quan điểm của tôi.
MỤC LỤC:
(I) Lời mở đầu và nguyên do
1. Lời mở đầu
2. Nguyên do
(II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị
1. Nói từ «Phong Thần diễn nghĩa»
2. Tiên thiên Bát quái phương vị
3. Hậu thiên Bát quái phương vị
(III) Từ Tiên thiên Bát quái phương vị suy ra Hậu thiên Bát quái phương vị
1. Nhị nguyên tam yếu tố
2. Từ tam yếu tố đến tam tài Thiên Địa nhân
3. Từ yếu tố “nhân” trong tam tài triển khai theo chiều ngang thành nhân trục
4. Tôi suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương như thế nào?
5. Ý nghĩa suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị
(IV) Từ Hậu thiên Bát quái phương vị suy ra Vị lai Bát quái phương vị
1. Đưa ra Vị lai Bát quái phương vị
2. Tầng ngụ ý thứ nhất của Vị lai Bát quái phương vị
3. Tầng ngụ ý thứ hai của Vị lai Bát quái phương vị
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/zj/book/html/8gua/b000.htm

Ngày đăng: 28-08-20112. Nguyên do
Nói đến Bát quái, danh từ này đã bị người Trung Quốc thời nay làm biến dị mất rồi. Ví như nói cá nhân này rất “bát quái”, thì chính là nói cá nhân này rất bậy bạ, lời nói ra quá mức độ. Người “bái quái” cũng giống như là tự dưng dựng chuyện vậy. Bởi vì người ta không lý giải được, cho nên hiện tại họ cấp cho danh từ “bát quái” này hàm nghĩa rất thế tục. Kỳ thực đây là không tôn trọng văn hóa truyền thống Trung Hoa và khinh nhờn tổ tiên Trung Hoa, cũng giống như tên món ăn “Phật nhảy qua tường” vậy. Phật là khẩu đoạn chấp trước, làm sao có thể “nhảy qua tường” để đến nhân gian thưởng thức mỹ vị được! Cái gọi là “mỹ vị” ở nhân gian, đối với Phật mà nói cũng tựa như đồ rác rưởi vậy! Đây là bởi vì thế nhân vô tri, nên mới dám nói như thế. Lý giải về Bát quái của con người thế gian cũng giống như thế.
Nói đến Bát quái, tôi cũng cần phải nói về kết duyên của tôi với Bát quái. Người Trung Quốc hiện tại đại đa số là bất tín mệnh, không tin vào vận mệnh. Do chịu giáo dục bởi khoa học thực chứng của phương Tây nên người ta dần dần chỉ tin vào phấn đấu cá nhân và sức mạnh của đồng tiền, hơn nữa người Trung Quốc thời nay còn thực dụng hơn cả người Tây phương. Tuy nhiên tôi cũng giống như những người tu hành, đều là tín mệnh, tin vào vận mệnh. Tôi cho rằng duyên phận với Bát quái của tôi là khá lâu dài, nên muốn “kể từ đầu”; đương nhiên “từ đầu” này chỉ là từ đầu trong kiếp sống này, chứ còn nói về đời trước, thì e rằng rất nhiều người không tin nổi nữa.
Nói là từ đầu, thì cũng là hơn 30 năm trước, cũng chính là mấy năm khi “Cách mạng Văn hóa” vừa mới kết thúc. Khi ấy tôi còn là một thiếu niên liễu lĩnh. Tôi có một vị đồng học, tổ tiên từng làm quan lớn khi Chính phủ Dân Quốc rời Đông Bắc sau khi chiến tranh thế giới thứ hai kết thúc và tiếp nhận rất nhiều sách vở của Hoàng cung Mãn Châu (rất nhiều đều là Phổ Nghi năm ấy đem từ Bảo tàng Cố cung).
Một lần tôi và đồng học đến đó, chỉ thấy mấy gian phòng, khắp nơi là thư tịch; đồng học nói với tôi có thể lấy tùy thích. Khi ấy tôi chọn mấy bản đẹp, trong đó có cuốn «Cổ văn quan chỉ» được khâu chỉ, «Tứ khố toàn thư» trong Bảo tàng Cố cung, còn có «Thần thoại La Mã» xuất bản bằng tiếng Pháp từ thế kỷ 17, v.v. Tôi chọn mấy cuốn với tiêu chuẩn là nhìn đẹp, tốt nhất là văn hay tranh đẹp. Trong đó có một cuốn sách hình gọi là «Hán thượng dịch». Đây chính là lần kết duyên tối nguyên sơ của tôi với «Kinh dịch». Điều đáng tiếc chính là, những cuốn sách còn lại cuối cùng đều bị bán làm phế phẩm, trở thành bột giấy, không còn nữa.
Cầm cuốn «Hán thượng dịch» trở về nhà, tôi hỏi mẹ tôi cái này có nghĩa là gì; mẹ tôi trả lời không được, nói đến hỏi thử bà ngoại xem. Bà ngoại tôi đã học qua trường tư thục, đối với Tứ thư, Ngũ kinh thì thuộc làu làu. Bà ngoại tôi là thầy dạy nhập môn của tôi, từng giảng cho tôi rất nhiều cố sự thời Xuân Thu Chiến Quốc và các điển cổ truyền thống, do đó «Đông Chu liệt quốc chí» đã trở thành sách giáo khoa của tôi hồi còn nhỏ. Thế là sau khi đến bà ngoại, tôi đem cuốn «Hán thượng dịch» cho bà xem. Bà ngoại xem xong nói, mỗi chữ hoặc mỗi câu trong đó thì bà đều hiểu nghĩa, nhưng không biết là nói về điều gì. Tôi nghe bà nói xong thấy rất nhụt chí, sau đó định từ bỏ cuốn «Hán thượng dịch» này. Đây chính là lần kết duyên đầu tiên của tôi với «Kinh dịch». Sự việc đã trôi qua hơn 30 năm rồi. Dưới đây tôi lại nói về duyên phận lần thứ hai của tôi với «Kinh dịch». Lần duyên phận này tương đối lâu dài, trước sau lên tới 8 năm.
Hồi tưởng lại, thấy khi còn trẻ, tôi đã là người rất kiên định theo đuổi khoa học thực chứng. Tôi đặc biệt sùng bái thành tựu vật lý học cận đại. Giấc mơ thời niên thiếu của tôi chính là có thể tiến thêm một bước nữa, học tập vật lý học hoặc nghề nghiệp liên quan đến vật lý học. Xã hội thời bấy giờ giảng “học giỏi Toán Lý Hóa, có đi khắp thiên hạ cũng không sợ”. Đây cũng chính là những năm tôi lần đầu tiên tiếp xúc với «Hán thượng dịch». Tôi đã bắt đầu đọc cuốn «Vật lý học sử», đồng thời bắt đầu đọc sách liên quan đến triết học Newton và tư tưởng Einstein. Ở tuổi của tôi lúc bấy giờ, đây đã là rất quá mức rồi.
Tuy nhiên, đối với hình thành thế giới quan của tôi, ngoại trừ ảnh hưởng của khoa học thực chứng ra, thì còn có một sự kiện ảnh hưởng rất lớn đến tư tưởng của tôi. Đây chính là loạt tiết mục trên truyền hình, gọi là “Hướng về tương lai”, hình như là phim của Đức, nói về bí ẩn Kim tự tháp, bí ẩn Atlantis, bí ẩn đảo Phục Sinh, v.v. “Ồ, khoa học không thể giải quyết tất cả vấn đề, còn có rất nhiều ẩn đố chưa được nhân loại giải thích!” Đây là cách nghĩ của tôi năm ấy, từ đó thế giới quan của tôi cởi mở hơn nhiều, không còn phong bế chật hẹp như trước nữa; tôi cũng không còn coi khoa học thực chứng là một loại chân lý tuyệt đối nữa.
Sau khi vào đại học, vì một số nguyên nhân, tôi không chọn học vật lý học, nhưng vẫn muốn lấy phương pháp vật lý học để vận dụng vào lĩnh vực chuyên nghiệp của tôi. Như một loại sở thích và niềm tin, tôi không hề từ bỏ học tập và nghiên cứu vật lý học. Tôi nghiên cứu chủ yếu về lý luận kết cấu xua tan, nhiệt lực học phi cân đối, luận từ trường, lượng tử lực học, thuyết Tương đối rộng, thuyết Tương đối hẹp cũng nghiên cứu không ít. Tuy nhiên nghiên cứu đi nghiên cứu lại, tôi phát hiện vật lý học cũng không phải là chân lý tuyệt đối; vật lý học dựa trên rất nhiều mệnh đề và giả thiết. Đặc biệt sau khi học về giả thuyết kiểm nghiệm trong thống kê, tôi biết loại giả thiết kiểm nghiệm này kỳ thực là rất chủ quan. Chỉ nằm trong phạm vi những giả thiết ấy thì các loại công thức và lý luận mới chính xác. Tuy nhiên một khi vượt qua những mệnh đề và giả thiết ấy, thì công thức và lý luận vật lý học lại không sử dụng được. Cũng chính là nói vật lý học hay là khoa học thực chứng đều không phải là vạn năng, mà chỉ là một loại chân lý tương đối. Sau đó tôi bắt đầu suy ngẫm, thấy rằng tính chân lý của khoa học là hữu hạn, là tương đối; như vậy tôi phải đi đâu đó để tìm tri thức hoặc chân lý cao hơn. Cá nhân tôi rất thích tư duy lô-gíc, thế là sau đó tự nhiên nghĩ đến mặt đối lập của khoa học—tôn giáo (thực ra cũng không phải là đối lập, chỉ là khi ấy tôi nghĩ như thế). Do đó tôi bắt đầu nghiên cứu khá hệ thống các loại tri thức tôn giáo, ví dụ Cơ Đốc giáo, Thánh Kinh, Phật giáo, Đạo giáo, v.v. Khi ấy, tôi gặp được một vị bằng hữu A, là bằng hữu của cha mẹ tôi, sau đó trở thành bạn vong niên của tôi. Bằng hữu A bắt đầu dẫn dắt tôi tiếp xúc có hệ thống với văn hóa truyền thống Trung Quốc và tư tưởng Phật giáo. Sau đó tôi học mệnh lý học, xem tướng và tứ trụ bát tự, v.v. thậm chí tôi đã từng xem bói cho hơn 100 vị bằng hữu. Đây là thời kỳ tiếp xúc với Bát quái lần thứ hai của tôi. Tôi không chỉ xem các loại bản đọc «Kinh dịch» bạch thoại, mà còn tìm được mấy bản «Chu dịch» đã được phiên dịch thành Anh văn từ những năm 1930. Lúc bấy giờ tôi rất kinh ngạc, ảnh hưởng của «Chu dịch» đã sớm lan ra nước ngoài, vậy mà trong hệ thống giáo dục của chúng tôi khi ấy thì một chút cũng không có. Sau đó thông qua đọc rất nhiều bản dịch Anh văn, tôi đã có hiểu biết sâu hơn về bản «Kinh dịch» bằng tiếng Trung. Ví dụ Anh văn dịch «Kinh dịch» là “The Book of Change”; từ “change” là một tầng lý giải mới đối với “dịch” (biến hóa); trước đây tôi nghĩ «Kinh dịch» chỉ là một cái tên sách mà không ngộ được hàm nghĩa sâu hơn của chữ “dịch”.
Trong thời gian ấy, đối với nghiên cứu «Kinh dịch» của tôi còn có một động lực thúc đẩy, là gì vậy? Chính là tư tưởng binh pháp truyền thống của Trung Quốc. Thời ấy tôi rất hứng thú với «Binh pháp Tôn Tử» cũng như các tác phẩm tương quan, và những tư tưởng này cuối cùng đã trở thành một bộ phận trong hệ thống lý luận luận văn Tiến sĩ của tôi. Trong binh thư có một bản «Tam thập lục kế». «Tam thập lục kế» tại Trung Quốc có thể nói là người người đều biết, thế nhưng rất ít người chân chính nghiên cứu nó. «Tam thập lục kế» trở thành sách vào triều Minh, mỗi kế trong cuốn sách đều sử dụng nguyên lý trong «Kinh dịch» để giải thích. Điều này đối với tôi là một gợi ý rất lớn. Ví dụ cổ nhân dùng các số 6, 7, 8, 9 để biểu thị các hạng ứng dụng. Trong đó 6, 8 là Âm, 7, 9 là Dương. «Kinh dịch» dùng 6 để đại biểu Âm, lấy 9 để đại biểu Dương, ví như thượng cửu, thượng lục, sơ cửu, cửu nhị, cửu ngũ, v.v. Dương 9 Âm 6 chính là khái niệm hào của Âm Dương, và không chỉ có vậy. Thượng cửu, sơ lục, trưởng nam, thiếu nữ, vị trí trưởng ấu, Dương trưởng Âm thiếu; ở đây còn có khái niệm về hào vị. Điều này rất có quan hệ với ý nghĩa “trưởng nam thiếu nữ” của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Ví như, “trưởng nam” đối ứng với 9, đại biểu Dương, Dương 7, 9 đứng đầu lấy làm trưởng giả, Dương giả là 9, làm trưởng, tức trưởng nam; “thiếu nữ” đối ứng với 6, đại biểu Âm, Âm 6, 8 đứng đầu lấy làm thiếu giả, là 6, làm thiếu, tức thiếu nữ.
Trở lại đề tài chính, như vậy vì sao gọi là «Tam thập lục kế»? Lẽ nào trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái thôi sao? Đương nhiên không phải vậy. «Tam thập lục kế» có nghĩa là gì? Chúng ta biết rằng, 6 đại biểu Âm, binh gia giảng chính là âm mưu quỷ kế, do đó lấy ý là 6×6=36; “lục” đại biểu ý là âm mưu, tam thập lục thuộc về âm của âm, chứ tuyệt không phải trí tuệ Trung Quốc chỉ có 36 cái.
Bởi vì «Tam thập lục kế» là dùng tư tưởng 8×8=64 quẻ trong «Kinh dịch» để tiến hành giải thích, nên khi ấy tôi nghĩ, liệu có thể lấy một bộ phận quẻ tượng trong «Kinh dịch» để dùng cho nghiên cứu quan hệ “mô hình xung đột đối kháng” của xã hội nhân loại hay không. Liệu có thể đem điều này áp dụng vào nghiên cứu xung đột xã hội “phi đối kháng”, ví dụ kinh tế hay không. Đây chính là cách nghĩ lúc bấy giờ của tôi. Sau đó tôi bắt đầu nghiên cứu «Kinh dịch» khá hệ thống, thậm chí còn tham gia các khóa học chuyên nghiệp, dùng phương pháp thống kê học để viết mấy bài luận văn học kỳ chuyên thảo luận về quan hệ giữa «Kinh dịch» và «Tam thập lục kế».
Chúng ta biết rằng, Dịch học có thể phân thành hai nhánh lớn là Nho học và Đạo học; Khổng Tử làm thập dực, càng chú trọng về bộ phận tư tưởng trong Dịch học, thuộc về Nho học dịch; còn Đạo học dịch càng chú trọng vào thuật số và toán lý. Tuy nhiên sau khi Đổng Trọng Thư thời Tây Hán độc tôn Nho thuật, Nho học dịch được đưa vào căn phòng thanh lịch, còn Đạo học dịch đi vào bí truyền trong dân gian. Trên thực tế, những thư tịch về Dịch học mà chúng ta thấy ngoài xã hội hiện nay đều thuộc về Nho học dịch, còn những họ lớn thuật toán trong lịch sử như «Mai hoa thi» của Thiệu Ung triều Tống, «Thôi bối đồ» của Viên Thiên Cang triều Đường, «Thiêu bính ca» của Lưu Bá Ôn triều Minh đều thuộc về Đạo học dịch, hơn nữa đều là những dự ngôn vĩ đại truyền tụng cổ kim.
Nói thẳng ra, trong thời kỳ này tôi chủ yếu mới chỉ dừng lại ở tầng diện gọi là “thuật” khi nghiên cứu và lý giải «Kinh dịch»; coi như học được thủ pháp này, toán pháp kia. Tuy nhiên, chúng ta biết rằng thủ pháp chân chính là không thể từ Nho học dịch lưu truyền trong xã hội mà nắm được, cũng không thể từ cái gọi là thủ pháp và thuật số xuất bản ngoài xã hội để tìm được đáp án; những thứ chân chính đều là bí truyền cả! Toán lý chân chính, trong các sách này đều không có giảng.
Sau đó tôi bắt đầu tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, do đó đã vứt bỏ những thứ này, không lại hiếu kỳ về cái gì gọi là cát hung nữa, không lại tìm tòi tiểu đạo về vận mệnh nữa. Vậy là duyên phận thứ ba đối với «Kinh dịch» của tôi đã kết thúc. Thật ra, đây là thời kỳ tôi học tập khá có hệ thống về «Kinh dịch». Tuy nhiên tư tưởng chân chính đằng sau những tri thức này (không chỉ tư tưởng triết học của Nho học dịch, mà tư tưởng toán lý và quy luật vũ trụ ẩn đằng sau) vẫn còn là đám sương mù, không cách nào từ bản chất, từ cơ chế mà thấy rõ ràng được. Kể từ đó, bởi vì đã học Đại Pháp rồi, đối với các chủng lý luận thế tục và sách vở ngoài xã hội tôi không còn hứng thú nữa, cũng không lại quan tâm đến học thuyết nào đó nơi người thường nữa, bởi vì những thứ đó rất đơn giản, không có gì là thật cả, nhìn một cái là biết ngay.
Lại khá nhiều năm qua đi như vậy. Đến năm 2005, do yêu cầu công tác, tôi cần phải tiến hành nghiên cứu các tư tưởng quản lý khác nhau ở cả Đông và Tây phương. Xuất phát từ gợi ý từ tư tưởng Bát quái phương vị, một ngày kia (có lẽ là tầm ngày 20 tháng 8 năm 2006) tôi đưa ra kết cấu nghiên cứu song bàn, trong là “nhân bàn”, ngoài là “thiên bàn”. Đồng thời tôi cũng phát hiện trong thể hệ tư duy Tây phương không hề có khái niệm về “vị trí” (khái niệm bối cảnh “context” là sau lý luận hệ thống mới có). Tôi phát hiện tư tưởng Tây phương bao giờ cũng tìm kiếm một loại góc độ quan sát tuyệt đối. Còn tư tưởng Bát quái, người phân Âm Dương, là dùng hào để biểu thị {hào gồm có hào Âm biểu thị bằng nét đứt và hào Dương biểu thị bằng nét liền}. Ngoài khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về hào vị {vị trí của hào trong quẻ}, đây là điều không có trong truyền thống nghiên cứu Tây phương. Thông qua mô hình song bàn, căn cứ quan hệ tương hỗ giữa “chủ thể” và “khách thể” (tương đương với hào) cũng như “chủ vị” và “khách vị” (tương đương với hào vị), tôi đã nghiên cứu về “thiên nhân hợp nhất” trong truyền thống Đông phương và “tri hành hợp nhất” trong phương thức biểu đạt Bát quái. Tôi cũng nghiên cứu dưới điều kiện “Âm Dương phản bối”, quan hệ đảo ngược giữa “chủ thể” và “khách thể” trong tư tưởng Tây phương, cùng cái gọi là “khách quan” được nhấn mạnh trong tư tưởng Tây phương, cũng như vấn đề lai nguyên trong tư duy về thủ đoạn “vật chất”. Đây là bắt đầu lần tiếp xúc thứ ba của tôi với «Kinh dịch».
Lần này khác với những lần trước chính là, bởi vì bản thân là người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp đã nhiều năm, hiểu rằng rất nhiều chỗ trong «Chuyển Pháp Luân» đều là tiết lộ Pháp lý tầng thứ cao trong vũ trụ. Những vấn đề Dịch học trước đây nhìn không ra, những cơ lý đằng sau «Kinh dịch» mà trước đây không phát hiện ra thì nay đều minh bạch cả, thậm chí chỉ nhìn một cái là rõ ngay. Từ đó tôi dễ dàng đưa ra những phát hiện về lý luận. Trong thời gian này tôi cảm nhận sâu sắc rằng, không phải bản thân có bản sự gì, cũng không phải bản thân thông minh thế nào, vậy mà trong bao nhiêu năm căn bản không xem lại «Kinh dịch», nói gì đến nghiên cứu, thế nhưng chỉ nhìn một cái đã minh bạch rồi, đây hoàn toàn là công của Pháp Luân Đại Pháp. Bộ Pháp này quả thực là quá vĩ đại, có thể khai mở hết thảy bí ẩn trong vũ trụ. Những yêu cầu trong công tác và nghiên cứu của tôi hết thảy đều nằm trong bộ Đại Pháp này. Trong khoảng thời gian này, cụ thể là ngày 2 tháng 9 năm 2006, tôi đã vận dụng cơ lý xoay chuyển Pháp Luân của Pháp Luân Đại Pháp để suy ra nguyên lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”.
Sau khi tìm được cơ lý “Hậu thiên Bát quái phương vị”, tôi cảm thấy chẳng để làm gì và còn định bỏ tại đó, không định nghĩ đến nó nữa.
Lần này, nguyên do lần kết duyên thứ tư của tôi với «Kinh dịch» là như thế này. Hai tháng trước, tôi một lần nữa gặp lại bằng hữu A; tôi hỏi ông căn cứ nghiên cứu cổ tịch, mệnh lý học và thuật số bao nhiêu năm của ông thì ông có biết ai đã hiểu được năm xưa Văn Vương đã suy luận “Hậu thiên Bát quái” từ “Tiên thiên Bát quái” như thế nào? Bằng hữu A trả lời rằng ông chưa từng nghe nói có ai nghiên cứu ra điều này, chỉ biết mệnh lý thuật số mấy nghìn năm qua đều kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương. Còn Văn Vương đã suy ra “Hậu thiên Bát quái” như thế nào thì e rằng chẳng ai biết, ngoại trừ mấy pháp môn bí truyền của Đạo gia thì may ra có người biết. Sau đó tôi nói với bằng hữu A rằng tôi đã suy ra được rồi. Bằng hữu A giật mình.
Đây còn chưa phải toàn bộ chỗ mấu chốt của vấn đề. Chỗ mấu chốt là đoạn đối thoại sau đó giữa tôi và bằng hữu A. Bằng hữu A nói: “Ông đã có thể từ ‘Tiên thiên Bát quái’ mà suy ra “Hậu thiên Bát quái’, vậy thì nhất định ông có thể từ ‘Hậu thiên Bát quái” suy ra ‘Vị lai Bát quái’”.
Có lẽ có độc giả đã biết rằng, trong giới mệnh lý học, ngay từ cuối những năm 80 thế kỷ trước, rất nhiều “cao nhân” đều biết thiên tượng của vũ trụ hiện nay đã biến đổi rồi. Văn Vương năm xưa đưa ra “Hậu thiên Bát quái” cũng chính hợp với biến đổi thiên tượng lúc ấy giờ; xem bói dùng “Tiên thiên Bát quái’ không còn linh nữa, do đó Văn Vương tất phải căn cứ biến hóa thiên tượng khi ấy để đưa ra một bộ “Hậu thiên Bát quái” thích ứng với thiên tượng mới. Hiện tại 3.000 năm đã qua rồi, lại tới thời đại biến hóa thiên tượng rồi, do đó căn cứ thuật số trong «Dịch lý», bất luận là xem bói bốc quẻ hay tứ trụ bát tự cũng đều không chuẩn xác nữa. Thiên tượng đã cải biến rồi, tất cả thuật số toán pháp kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái phương vị” đều không còn linh nữa. Bằng hữu A đã rất sớm nói với tôi, hiện tại gieo quẻ đã không còn linh nữa, nhưng xem tướng thì còn được, là vì tướng do tâm sinh, có thể tùy thiên tượng biến hóa mà biến hóa, thế nhưng quẻ tượng thì đã không thể sử dụng được nữa. Từ đó bằng hữu A cứ nghĩ rằng, hiện tại thiên tượng vũ trụ đã biến đổi rồi, dù sao cũng phải có người đứng ra công bố Bát quái phương vị đồ ứng với thiên tượng mới của vũ trụ chứ! Đây là điều mà bằng hữu A nhớ mãi không quên, do đó tự nhiên ông cứ kiến nghị tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”.
Đây là sự việc mới xảy ra 2 tháng trước. Bằng hữu A cứ nói, tôi cứ nghe, cũng không có chuyển biến gì. Tối ngày 11 tháng 12, tôi mất ngủ, trằn trọc mãi không ngủ được. Mấy hôm ấy tôi đang chuẩn bị bài diễn thuyết về tư tưởng quản lý kinh doanh xí nghiệp và văn hóa truyền thống, do đó đến tối đại não vẫn khá hưng phấn. Đã quá 2 giờ đêm, tôi vẫn ngủ không được, xem ra cả đêm không ngủ được, thì đột nhiên nghĩ tới sự việc bằng hữu A mời tôi đưa ra “Vị lai Bát quái”. Thế là tôi nghĩ nên thử xem sao, vừa nằm vừa bắt đầu suy nghĩ, nói đến cũng thật thần kỳ, tôi không vẽ hình mà chỉ tính toán trong đầu não, tưởng tượng xem “Vị lai Bát quái” rốt cuộc là thế nào. Cứ như vậy, một tiếng đồng hồ trôi qua, tôi sắp nhắm mắt lại rồi mà vẫn cảm thấy thật khó mà tin nổi, chẳng lẽ đưa ra dễ dàng như vậy ư?!
Suy ra được rồi, tôi vẫn còn chưa yên tâm, thế là sáng sớm hôm sau ngồi dậy đã cầm bút vẽ hình trên giấy, nghiệm chứng một lần nữa. Cách tính toán không có gì, nhưng kết quả bức vẽ lại khiến tôi giật mình. Đây chẳng phải là kết quả Chính Pháp vũ trụ mà Pháp Luân Đại Pháp tiết lộ hay sao?! Đây chẳng phải là kết quả giảng chân tướng cứu thế nhân của vô số đệ tử Pháp Luân Đại Pháp tu luyện trong Chính Pháp ư?! Đây chẳng phải là kết cục cuối cùng của chúng sinh trên thế gian hay sao?! Là thẩm phán tối hậu?! Điều này không khỏi khiến tôi nghĩ về bài thơ “Vô đề” trong tập Hồng Ngâm II của Lý Hồng Chí Tiên sinh, trong đó có câu: “Thần nhân quỷ súc diệt, Vị trí tự kỷ định“.
Ôi chao, kết quả thật đáng kinh ngạc! Văn minh Trung Hoa 5.000 năm chỉ để đợi ngày này! Những ông tổ văn hóa Trung Hoa trong thời đầu của nền văn minh đã sớm đưa đại kết cục 5.000 năm sau vào ẩn đố trong Bái quái! Quả thực là quá thần kỳ, không thể tin được, quá vĩ đại! Những người Trung Quốc đáng quý, các bạn không được có lỗi với tổ tiên nhé! Phải xứng đáng với chiếu cố và an bài vi diệu vô cùng của Thần trên thiên thượng! Đừng để vì món lợi nhỏ trước mắt mà đánh mất cơ duyên đã chờ đợi trong hàng ức vạn năm!
Tôi có một vị bằng hữu là tư vấn quản lý công ty mới đây đã nhiều lần hỏi tôi rằng, xã hội nhân loại vì sao “khởi điểm đã là đỉnh điểm”? Thượng Đế đã có an bài tỉ mỉ trong 5.000 năm qua, mục đích để làm gì? Cuối cùng để nhân loại chúng ta hiểu được điều gì? Đối diện với những câu hỏi này, tôi đã không ngừng từ Pháp lý của Pháp Luân Đại Pháp để giải thích. Tuy nhiên vị bằng hữu này của tôi vẫn không ngừng hỏi. Hai ngày trước, tôi đã đưa phát hiện “Vị lai Bát quái phương vị” nói cho vị này, và vị bằng hữu trông như đang ôm bảo bối trước ngực vậy. Nguyên là tôi không định dùng phát hiện này để giải đáp vấn đề cho bằng hữu, thế nhưng kết quả phát hiện đã giải đáp trọn vẹn những bí mật mà bằng hữu của tôi quan tâm; điều này vượt ra ngoài dự liệu của tôi.

Vị lai Bát quái phương vị (Phần 3)
Tác giả: Tiểu Nham

[Chanhkien.org]
(II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị
1. Nói từ «Phong Thần diễn nghĩa»
Vào những năm 80, 90 thế kỷ trước, tôi đọc được một tin tức trên báo chí nói rằng tại nơi mà Phục Hy năm xưa nhìn thấy bạch quy {rùa trắng} lại một lần nữa xuất hiện bạch quy, trên mu rùa có Bát quái văn. Nghe nói năm xưa Phục Hy nhờ quan sát Bát quái trên lưng rùa, sau đó ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng lập Bát quái, khai sáng khởi nguyên văn hóa Trung Hoa. Sau đây tôi sẽ đưa ra một số thông tin sưu tập trên mạng để mọi người tham khảo.
“19 năm trước (tác giả ghi chú: tức năm 1984), người ta bắt được một cụ rùa trắng hơn 200 tuổi tại hồ Tiền Thành, gần đài Họa Quái ở Hoài Dương. Do đó, hồ rùa trắng xuất ra rùa trắng, đã chứng minh tính chân thực của truyền thuyết 6.000 năm trước, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bắt được bạch quy ở Thái Thủy, đào ao nuôi thả, ngày đêm quan sát, bắt đầu sáng tác Bát quái. Sau 6 năm biến mất trong hồ khi được phóng sinh, hôm nay rùa trắng lại hiện thân tại Hoài Dương.”
“Vì sao bạch quy này xuất hiện tại đây và ‘dẫn người đến xem’? Theo cán bộ huyện về hưu, người từng nghiên cứu phong tục dân gian thì trong truyền thuyết, ông tổ Thái Hạo Phục Hy bấy giờ từ Thái Hà bắt được một con bạch quy, đào ao tự nuôi, thường đến ao quan sát và nhờ được gợi mở từ hoa văn trên thân bạch quy mà vẽ ra Bát quái; bởi vậy bạch quy là thánh vật giúp Phục Hy sáng tác Bát quái. Vậy rốt cuộc trên đời có bạch quy hay không? Sớm ngày 16 tháng 8 năm 1984, tại Đông Quan thuộc huyện Hoài Dương, một thiếu niên tên là Vương Đại Oa đã câu được một con bạch quy tại ao Bạch Quy trước đài Họa Quái. Chú rùa này toàn thân trắng toát, trong sáng lung linh, nặng 1,3 cân, gần như hình tròn. Theo giám định của chuyên gia hữu quan, chú rùa này đã 235 tuổi. Các chuyên gia kinh ngạc khi phát hiện các hoa văn trên thân bạch quy, cùng với bức họa Tiên thiên Bát quái của Phục Hy là nhất trí đến lạ thường. Chính giữa mu rùa có năm miếng, tượng trưng cho ‘Ngũ Hành’ là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ; xung quanh trung tâm mu rùa có tám miếng, tượng trưng cho Bát quái là Càn, Cấn, Chấn, Tốn, Khảm, Ly, Khôn, Đoài; vòng ngoài mu rùa có 24 miếng, tượng trưng cho 24 tiết khí, dưới bụng có 12 miếng, tục xưng là ‘Địa chi’, tượng trưng cho Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi; móng rùa giống móng rồng, bắp chân có chữ ‘nhân’.”
“Theo «Nguyên hòa quận huyện đồ chí» thì: đài Bát quái và đàn Bát quái ở huyện Bắc chính là họa Bát quái do Phục Hy vẽ. Sử liệu hữu quan ở Hoài Dương ghi lại, sau khi định đô ở Hoài Dương, Phục Hy bắt được bạch quy từ Thái Thủy, đào ao nuôi dưỡng, ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất, quan sát vạn vật, lại căn cứ theo biến hóa thiên tượng và hình trên mu rùa để vẽ ra Bát quái. Năm 1984, bạch quy lại hiện thân tại Hoài Dương, còn ghi chép trước đó về bạch quy trong lịch sử thì chỉ là văn nhân mặc khách tưởng tượng mà thôi. Hôm nay, bạch quy lại một lần nữa hiện thân, khiến truyền thuyết trở thành hiện thực; vậy có thể nói, bạch quy là ‘hóa thạch sống’ để nghiên cứu văn hóa Phục Hy.”
Đương nhiên, đại đa số người ta chỉ coi đây là một câu chuyện để đọc cho vui, và coi việc lấy Bát quái từ bạch quy là một cố sự thần thoại không cách nào khảo cứu. Nhưng trên thực tế, dường như tất cả văn hóa các dân tộc đều bắt nguồn từ những cố sự thần thoại như vậy, chẳng lẽ cố sự thần thoại là chuyện của Thần thật ư? Bản thân tôi không định coi nó là cố sự, khi ấy tôi nghĩ, bạch quy tái hiện nhất định là biến hóa thiên tượng! Bạch quy tuyệt không phải là vô duyên vô cớ mà xuất hiện.
Ở đây tôi muốn kể cho mọi người một câu chuyện, và có thể các bạn chỉ coi như cố sự để nghe, bởi đây chẳng qua chỉ là một phỏng đoán của tôi mà thôi.
Mọi người nhất định đều từng nghe cố sự Đát Kỷ làm loạn triều đình rồi phải không. Điều này đối với việc Văn Vương suy ra “Hậu thiên Bát quái” là có quan hệ, là chủ tuyến của «Phong Thần diễn nghĩa». Đát Kỷ nguyên là con gái của Ký Châu hầu Tô Hộ, sau đó bị cáo chín đuôi phụ thể, rồi đi mê hoặc Trụ Vương nhà Thương, dẫn đến mất nước; Võ Vương từ đó khai sáng giang sơn nhà Chu kéo dài 800 năm, xã hội Trung Quốc từ đó tiến nhập vào “thời đại Thiên Tử” của “Hậu thiên Bát quái”.
Nếu như tôi nhớ không nhầm, thì đầu những năm 90 thế kỷ trước, tôi đã xem được một bài báo, nói trong rừng Tương Tây ở Hồ Nam, Trung Quốc, người ta đã phát hiện ra loài chim chín đầu có trong truyền thuyết. Đọc được tin tức này, tôi cảm thấy rất không hay, bởi tôi nghĩ tới cảnh thiên hạ đại loạn vì cáo chín đuôi năm xưa. Hồ ly yêu mị, hồ ly chín đuôi, nó nhất định là lẳng lơ dị thường; hôm nay xuất hiện chim chín đầu trong truyền thuyết, quả nhất định không thể xem thường. Chim thì thế nào? Chim thường ca hát, chim chín đầu ca hát thì nhất định là rất êm tai. Mấy năm sau, tại Tương Tây xuất hiện một “Spicy Girl”, luôn đứng hát bên cạnh Giang Trạch Dân, trở thành “quốc mẫu” nửa cấp ba lại nổi danh với nghiệp ca hát {nữ ca sĩ Tống Tổ Anh}. Đúng là thiên tượng đều có an bài ở bên dưới, chỉ có thế nhân là không tin mà thôi!


Vị lai Bát quái phương vị (Phần 4)
Tác giả: Tiểu Nham

[Chanhkien.org]
(II) Tiên thiên Bát quái phương vị và Hậu thiên Bát quái phương vị
2. Tiên thiên Bát quái phương vị
Sau đây chúng ta sẽ trở lại vấn đề chính. Nhiệm vụ chủ yếu của chúng ta trong phần này là trình bày tôi đã suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị từ Tiên thiên Bát quái phương vị dựa trên cơ chế nào. Như vậy trước tiên chúng ta phải xem hình dạng Tiên thiên Bát quái phương vị (Hình 1 và Hình 2) cùng những ngụ ý trong đó.

Hình 1: Tiên thiên Bát quái phương vị đồ của Phục Hy
Trên đây là đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Theo truyền thuyết, thủy tổ văn hóa Trung Hoa là Phục Hy đã ngẩng mặt nhìn trời, cúi đầu nhìn đất mà sáng tạo ra phương vị Bát quái này. Tất nhiên, đây là cách nói về nguồn gốc của Bát quái trong xã hội nhân loại. Kỳ thực Bát quái có khởi nguyên cao hơn, vượt ra khỏi nhân loại. Như vậy ý nghĩa của nghiên cứu Bát quái phương vị là gì? Vì sao chúng ta phải nghiên cứu Bát quái phương vị? Chúng ta biết rằng, Bát quái là một loại mô hình vũ trụ, có sẵn công năng dự báo tương lai của vũ trụ và vận mệnh của con người. Dự báo như thế nào? Đương nhiên kinh điển nhất chính là có thể xem bói thông qua cỏ thi hoặc đồng tiền. Đây là coi bói đối với một sự kiện cụ thể, xem một quẻ tượng cụ thể để dự đoán cát hung. Còn nếu phải nghiên cứu một quy luật sự kiện lớn, ví dụ quy luật diễn hóa và thay đổi của xã hội nhân loại, thì nhất định phải biết thứ tự sắp xếp giữa các quái {quẻ} với nhau; đây chính là vấn đề Bát quái phương vị cần phải giải quyết, cũng chính là thứ tự sắp xếp của Bát quái. Mấy nghìn năm qua, tất cả mệnh lý thuật số trong «Chu dịch» đều là căn cứ vào thứ tự “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương mà thành lập. Nhưng “Hậu thiên Bát quái phương vị” là Chu Văn Vương căn cứ quan sát của mình đối với biến hóa thiên tượng hậu thiên để đưa ra. Do đó đây là Dịch học hậu thiên của Chu Văn Vương, còn gọi là «Chu dịch». Kỳ thực Dịch học không phải chỉ có «Chu dịch», ví dụ Dịch học trước Văn Vương còn có «Thương dịch» (Dịch học nhà Thương), «Hạ dịch» (Dịch học nhà Hạ), v.v. «Hạ dịch» lại có «Liên Sơn dịch»; «Thương dịch» lại có «Quy tàng dịch», v.v. Chiểu theo tập quán đặt tên, Dịch học Tây Hán được gọi là «Hán thượng dịch» (Tây Hán, Đông Hán còn được gọi là Hán thượng, Hán hạ); đây cũng chính là căn bản Dịch học tuổi thiếu thời của tôi. Tuy nhiên, về bản chất mà nói, các phiên bản Dịch học từ «Chu dịch» trở đi là không có khác biệt về bản chất với «Chu dịch», đều là căn cứ vào trình tự sắp xếp “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, chỉ là thêm giải thích của người đời sau vào đó, ví dụ phiên bản «Chu dịch» hiện đại kèm theo giải thích của Thiệu Ung Thiệu Tử thời Bắc Tống.
Trước tiên chúng ta xem sự phân biệt các quẻ tượng của “Tiên thiên Bát quái” có ý nghĩa gì. “Tiên thiên Bát quái” phân biệt là 1 Càn (☰), 2 Đoài (☱), 3 Ly (☲), 4 Chấn (☳), 5 Tốn (☴), 6 Khảm (☵), 7 Cấn (☶), 8 Khôn (☷). Trình tự sắp xếp này dường như có chút kỳ quái, bởi vì nếu theo chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Tốn, Khảm, Cấn, Khôn, Chấn, Ly, Đoài, hoặc nếu ngược chiều kim đồng hồ thì phải là Càn, Đoài, Ly, Chấn, Khôn, Cấn, Khảm, Tốn. Vậy thì tại sao tôi lại nói trình tự sắp xếp là như vậy? Đây gọi là “Thái Cực tuần hoàn”, chứ không phải “viên chu tuần hoàn” (tuần hoàn theo chu vi hình tròn) như chúng ta vẫn biết. Điều này chúng ta sẽ phải nói đến ở dưới đây. Như vậy 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn phân biệt đại biểu ý nghĩa gì? Nói tới đây, một số độc giả có thể phải kiên trì một chút, bởi vì phương thức trình bày của tôi ở đây là để những độc giả nào chưa có căn bản về «Chu dịch» vẫn có thể hiểu được, do đó tri thức cơ sở có thể phải nói tường tận một chút. Bởi vì “Tiên thiên Bát quái” đối ứng với thiên tượng của vũ trụ, nên hàm nghĩa “Tiên thiên Bát quái” cũng đối ứng với một số yếu tố trong giới tự nhiên, phân biệt là: 1 Càn đại biểu Thiên {trời}, 2 Đoài đại biểu Trạch {đầm}, 3 Ly đại biểu Hỏa {lửa} (tác giả ghi chú: Hỏa có thể đại biểu ‘điện’, trong “Vị lai Bát quái phương vị” chúng ta sẽ phải sử dụng hàm nghĩa này), 4 Chấn đại biểu Lôi {sấm}, 5 Tốn đại biểu Phong {gió}, 6 Khảm đại biểu Thủy {nước}, 7 Cấn đại biểu Sơn {núi}, 8 Khôn đại biểu Địa {đất}, tham khảo Hình 2.

Hình 2: Biểu ý của Tiên thiên Bát quái
Như vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” có ý nghĩa gì? Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Bát quái” là Dịch lý trước thời Văn Vương, là do Phục Hy sáng lập, đối ứng với thiên tượng vũ trụ trước thời Văn Vương. Như vậy thiên tượng vũ trụ thời ấy có đặc trưng gì? Chúng ta có thể từ đồ tượng “Tiên thiên Bát quái phương vị” để rút ra một số cái, bởi vì “Tiên thiên Bát quái phương vị” và thiên tượng vũ trụ thời bấy giờ là đối ứng. “Tiên thiên Bát quái phương vị” có thể phản ánh tầng không gian vũ trụ ở gần nhân loại, cũng chính là tầng vũ trụ mà nhân loại sinh tồn, trong đó vạn vật tự nhiên đều được sinh ra thành đôi, tồn tại đối lập nhau, ví dụ Thiên đối Địa (Càn đối Khôn), Hỏa đối Thủy (Ly đối Khảm), Phong đối Lôi (Tốn đối Chấn), Sơn đối Trạch (Cấn đối Đoài), mời xem Hình 2. Loại tồn tại đối lập này cũng chính là đặc tính vũ trụ thời ấy, rất nhấn mạnh tính đối lập của vạn vật, chính vì vậy có Phật thì có ma, có người thì có quỷ. Vì vậy đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” phản ánh một loại thế giới với Âm-Dương đối lập, cũng là phản ánh Lý tương sinh-tương khắc sản sinh từ một tầng thứ nhất định trong vũ trụ đi đến trạng thái cực đoan. Do đó “Tiên thiên Bát quái phương vị” trên thực tế là mô tả vũ trụ nguyên thủy đã đi đến một loại trạng thái đối lập cực đoan.
Như vậy chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” còn có thể nhìn ra được gì nữa? Chính là phương thức định nghĩa về Âm-Dương trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bái quái mỗi một nét gạch được gọi là ‘hào’. Hào có thể phân Âm-Dương. Dương là một gạch liền, Âm là một gạch đứt. Đây là phân biệt Âm-Dương trong hào. Vậy thì làm sao để phân biệt Âm-Dương trong một quẻ? Định nghĩa về Âm-Dương của quẻ tượng trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị” là khác nhau, đây là chỗ mấu chốt để hiểu được Lý chuyển từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Chúng ta biết rằng, trong Bát quái, ngoại trừ khái niệm về hào ra, còn có khái niệm về ‘vị’, cũng chính là điều gọi là ‘sơ vị’ (vị trí của hào ở dưới cùng), ‘trung vị’ và ‘thượng vị’ (tác giả ghi chú: trong 64 quẻ của «Chu dịch», vị trí hào ở dưới cùng nhất là sơ vị). Trong phân tích lý tính của Tây phương không hề có khái niệm “vị”, do đó “vị” là khái niệm đặc trưng của văn hóa phương Đông. “Tư tưởng trung dung” của Nho gia và cách nói “Cửu ngũ chi tôn” của văn hóa truyền thống cũng đều từ đây mà ra.
Trong “Tiên thiên Bát quái phương vị” thì Âm-Dương của hào ở vị trí sơ hào xác định Âm-Dương của quẻ tượng. Ví dụ vị trí sơ hào của Càn (☰), Đoài (☱), Ly (☲), Chấn (☳) đều là hào Dương, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Dương; cũng như vậy vị trí sơ hào của Tốn (☴), Khảm (☵), Cấn (☶), Khôn (☷) đều là hào Âm, do đó bốn quẻ này đều là quẻ Âm. Chiểu theo cách phân định quẻ Âm-Dương này, chúng ta đưa Thái Cực vào đồ hình “Tiên thiên Bát quái phương vị” và được Hình 3; đây chính là quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực.

Hình 3: Quan hệ giữa Tiên thiên Bát quái và Thái Cực
Như vậy từ Hình 3, chúng ta có thể có được thông tin gì? Chính là nói rằng thuộc tính Âm-Dương của bất kể sinh mệnh nào cũng đều là do thuộc tính Âm-Dương tại vị trí sơ sinh quyết định, cũng là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định Âm-Dương tiên thiên. Bởi vì trong quá trình luân hồi, thuộc tính nam-nữ Âm-Dương của sinh mệnh không ngừng biến hóa; thế nhưng thuộc tính Âm-Dương của sinh mệnh chân chính là do Âm-Dương tiên thiên quyết định, cũng chính là Âm-Dương của vị trí sơ hào quyết định. Chúng ta biết rằng, ba hào vị của Bát quái là thượng vị, sơ vị và trung vị thay nhau đại biểu cho tam tài là Thiên, Địa, nhân, hơn nữa nhân ở trung vị, do đó phải thủ trung, cần trung dung. Trong 64 quẻ, ba hào trên được gọi là ‘thượng quái’, trong đó hào số năm xác định trung vị của thượng quái, đại biểu người, thuộc bề trên, là vị trí Đế vương, thời xưa gọi là ‘Cửu ngũ chi tôn’, đại biểu vị trí Đế vương. Còn ba hào dưới trong 64 quẻ được gọi là ‘hạ quái’, trong đó hào số hai làm trung vị, là nhân vị của hạ quái. Do đó nhân vị của hạ quái là người dưới, gọi là ngôi của bề tôi, thuộc vị trí ‘Cửu nhị thủ trung’. Hào thứ ba, hào thứ tư đều thuộc vào vị trí tiến thoái lưỡng nan, tựa như bước trên băng mỏng, lên không được xuống cũng không xong. Còn sơ hào, hào đầu tiên của phần dưới thường là cảnh tượng vạn vật sơ sinh, quyết định Âm-Dương của sơ sinh, thuộc năng lượng vô cùng yếu kém, thuộc điều gọi là trạng thái “tiềm long vật dụng” {rồng ẩn chớ dùng}. Còn hào thứ sáu ở trên đỉnh đầu thường thuộc vị trí vượt quá ‘trung dung trung chính’, thuộc về trạng thái “kháng long hữu hối” {rồng cao ngạo thì phải hối hận}.
Lý Hồng Chí Tiên sinh đã có một đoạn giảng Pháp trong «Chuyển Pháp Luân» liên quan đến nguồn gốc của nam-nữ Âm-Dương, cũng có quan hệ đến ‘Âm Dương phản bối’ trong “Hậu thiên Bát quái’ mà chúng ta sẽ thảo luận sau. Do vậy xin cho phép tôi dẫn giải một chút cho quảng đại độc giả.
Trong mục “Phản tu và tá công“, Lý Hồng Chí Tiên sinh giảng: “Thực ra [ngay cả] chủ nguyên thần cũng không nhất định có cùng [giới tính] với nhục thân; bởi vì chúng tôi đã phát hiện rằng bây giờ nữ nguyên thần của nam có rất nhiều, nam nguyên thần của nữ cũng có rất nhiều; hoàn toàn phù hợp với điều mà hiện nay Đạo gia gọi là thiên tượng âm dương đảo chiều và âm thịnh dương suy.
Trong giới tu luyện giảng rằng sinh mệnh con người nguyên là đến từ không gian vũ trụ, do đó thuộc tính sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân, Pháp Luân Đại Pháp gọi là ‘chủ nguyên thần’, còn rất nhiều công pháp Đạo gia gọi là ‘thức thần’. Sinh mệnh chân chính của con người là nguyên thần chứ không phải nhục thân. Nhưng giới tính của nguyên thần và nhục thân không nhất định là giống nhau, đặc biệt đến thời đại ‘Âm dương phản bối’ (thời đại “Hậu thiên Bát quái”) thì lại càng như vậy. Hiển nhiên, chúng ta từ “Tiên thiên Bát quái” có thể thấy được Lý này, Âm-Dương của Bát quái là do Âm-Dương của sơ vị (hào vị thứ nhất) quyết định. Bản thân “Tiên thiên Bát quái” là có một tầng ngụ ý ấy.
Tiếp theo, chúng ta lại xem quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực. Chúng ta phát hiện thấy Thái Cực này là một dạng hình tượng ‘trái Dương phải Âm’, cũng chính là điều gọi là ‘nam tả nữ hữu’. Loại Thái Cực ‘nam tả nữ hữu’ này đã thuyết minh một vấn đề gì? Chúng ta biết rằng, Dương khí thanh mà nhẹ, thăng lên trên; Âm khí đục mà nặng, hạ xuống dưới. ‘Trái Dương phải Âm’ đại biểu Âm-Dương không thể tương giao. Không thể tương giao chính là không có cơ chế “tương sinh” (chỉ có cơ chế đối lập, tương khắc), cũng chính là “Thần nhân” hoặc “Thiên nhân” tại không gian cao tầng trong vũ trụ còn chưa hạ xuống. Dưới mặt đất nếu như có người (người trước thời Văn Vương), thì đó chỉ là người sinh ra trên mặt đất, cũng chính là nhục thân này của con người, còn chưa có tư tưởng và văn hóa, cũng chính là người trên mặt đất mặc lớp da người này, không có quan hệ với người trên thiên thượng. Ý nghĩa căn bản của “Tiên thiên Bát quái phương vị” chính là đại biểu cho đặc tính của “vũ trụ đầu tiên”. Tất nhiên “vũ trụ đầu tiên” mà tôi nói này không phải cái gọi là “tiểu vũ trụ” 13 tỷ năm ánh sáng mà khoa học thực chứng và tri thức nhân loại nhận thức được, mà là “đại vũ trụ” bao gồm hàng nghìn vạn hồng khung hoàn vũ được giảng trong Pháp Luân Đại Pháp. “Vũ trụ đầu tiên” cũng là điều gọi là “cựu vũ trụ”. Tất nhiên đây chỉ là lý giải của cá nhân tôi.
3. Hậu thiên Bát quái phương vị
Sau đây chúng ta sẽ xem xét hình dạng của đồ hình “Hậu thiên Bát quái phương vị”, xin xem Hình 4.

Hình 4: Hậu thiên Bát quái phương vị đồ của Văn Vương
Độc giả sẽ phát hiện thấy Bát quái này cũng là “tám quẻ” ấy, chẳng qua vị trí sắp đặt của chúng khác với “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy, cũng là nói phương vị đã cải biến rồi, trình tự sắp xếp đã thay đổi rồi. Như vậy xem thế nào? Chính là Càn (☰), Khảm (☵), Cấn (☶), Chấn (☳), Tốn (☴), Ly (☲), Khôn (☷), Đoài (☱). Đây là trình tự sắp xếp mà mọi người đều hiểu rõ, các độc giả hiểu được «Chu dịch» đều biết cách đọc theo thứ tự này.
Chúng ta biết rằng, «Dịch học» thuộc vào dự trắc học, chỉ cần thứ tự thay đổi, thì cơ lý dự báo đã biến đổi rồi. Ở đây có lẽ phải kể cho mọi người một câu chuyện này. Chúng ta biết rằng, dự ngôn «Thôi bối đồ» là do Viên Thiên Cang và Lý Thuần Phong sống vào thời thịnh Đường Thái Tông sáng tác ra, có thể tiên tri những sự việc sau đó cả nghìn năm. Chiến loạn thời Đường mạt có ngũ đại thập quốc, «Thôi bối đồ» từ hoàng cung lưu lạc tới dân gian. Sau khi Tống Thái Tổ Triệu Khuông Dận nắm quyền, một ngày nọ Triệu Phổ đến hỏi ý Thái Tổ, nói là «Thôi bối đồ» đang được lưu truyền, nếu truyền rộng ra, người người đều biết khi nào thì Đại Tống vong quốc, vậy thì giang sơn Đại Tống làm sao thống trị đây? Phải chăng nên thu lấy «Thôi bối đồ» đang lưu truyền tại dân gian. Triệu Khuông Dận sau khi suy nghĩ nói rằng năm xưa Tần Thủy Hoàng đốt sách chôn nho cũng không thể tru diệt tư tưởng bách gia, thu giữ làm sao hết được! Trọng tâm của dự trắc học chính là trình tự thời gian, chúng ta chỉ cần đem trật tự trước sau của «Thôi bối đồ» đả loạn, đưa ra các bản «Thôi bối đồ» thứ tự khác nhau là khả dĩ rồi. Vàng thau lẫn lộn, người ta không có cách nào phân biệt phiên bản chân chính. Triệu Khuông Dận đúng là cao minh hơn Tần Thủy Hoàng, bản «Thôi bối đồ» mà chúng ta hiện nay xem được thực ra đều bị Triệu Khuông Dận đảo loạn rồi. Nếu như mất đi công năng dự trắc, thì người bình thường không cách nào biết được tương lai trong «Thôi bối đồ» trước khi sự việc xảy ra, và chỉ sau khi việc xảy ra rồi thì mới minh bạch. Ví dụ đồ hình Tượng 33 «Thôi bối đồ» vẽ một con thuyền chở tám mặt cờ xí và mười người đến từ hướng Đông Bắc, thì chỉ sau khi Mãn Thanh nhập quan, mọi người mới biết nó mang ý nghĩa gì. Lại như năm xưa khi Lý Tự Thành tạo phản, có một người tên Tống Hiến Sách chỉ nhờ nói cho Lý Tự Thành ý nghĩa một bức họa trong «Thôi bối đồ» mà có được chức quân sư. Nhưng cuối cùng quân sư kiểu này nhìn sai một bức họa khác và đưa ra quyết định sai lầm.
“Hậu thiên Bát quái” và “Tiên thiên Bát quái”, nhìn thì tựa như chỉ mấy quẻ tượng ấy, nhưng trình tự đã biến đổi rồi. Loại biến đổi trình tự này bản thân nó là đại biểu cho biến hóa thiên tượng của vũ trụ. Kỳ thực cũng không phải đơn giản chỉ là thay đổi trật tự các quẻ, mà là thiên tượng biến hóa dẫn tới Pháp lý biến hóa, đây mới là căn bản. Thiên tượng biến hóa khiến Pháp lý biến hóa, đây là trục chính để tôi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” từ “Hậu thiên Bát quái phương vị”, và tôi cũng chắc rằng Văn Vương đã căn cứ tư tưởng này để định nghĩa lại mới Âm-Dương cho các quẻ tượng. Đây là chỗ then chốt trong đột phá lý luận của tôi. Trước tiên mời xem Hình 5, cũng chính là ngụ ý mới của “Hậu thiên Bát quái”.

Hình 5: Biểu ý của Hậu thiên Bát quái
Căn cứ “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, chúng ta phát hiện thấy Văn Vương đã định nghĩa lại mới sự vật đại biểu của Bát quái, không lại dùng tám loại vật chất trong giới tự nhiên là Thiên {trời}, Địa {đất}, Thủy {nước}, Hỏa {lửa}, Sơn {núi}, Trạch {đầm}, Phong {gió}, Lôi {sấm} nữa, mà dùng nhân luân để định nghĩa sự vật đối ứng hoặc đại biểu cho Bát quái. Trong Bát quái của Văn Vương, tám quẻ phân biệt đại biểu như sau: Càn là Phụ {cha}, Khôn là Mẫu {mẹ}, Chấn là trưởng nam {con trai cả}, Tốn là trưởng nữ {con gái cả}, Khảm là trung nam {con trai thứ}, Ly là trung nữ {con gái thứ}, Cấn là thiếu nam {con trai út}, Đoài là thiếu nữ {con gái út}. ‘Nhân luân Bái quái’ này chính là bước tiến của tôi trong quá trình đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” từ “Hậu thiên Bát quái phương vị”.
Loại “Nhân luân Bái quái” này của Văn Vương, tức “Hậu thiên Bát quái”, là khác với “Tự nhiên Bát quái” của vạn vật vũ trụ, tức “Tiên thiên Bát quái” hoặc “Vũ trụ Bát quái”. Đây là điểm cực kỳ trọng yếu. Bậc thầy thuật số Thiệu Ung viết: “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên.” Câu nói này của Thiệu Tử đã khiến tôi hiểu rõ cơ lý của Bát quái, và là manh mối giúp tôi tìm ra biến hóa nhân lý tương ứng với biến hóa Thiên lý.
Tiếp theo, chúng ta phát hiện thấy cùng với việc Văn Vương định nghĩa lại mới ý nghĩa nhân luân cho Bát quái, thì ông còn định nghĩa lại mới Âm-Dương cho mỗi quẻ tượng. Văn Vương không lại dùng phương pháp định nghĩa Âm-Dương bằng vị trí sơ hào của “Tiên thiên Bát quái” nữa, mà lấy nam-nữ của nhân luân để định nghĩa lại mới Âm-Dương. Trưởng nam lấy hào thứ nhất là hào Dương để định nghĩa, trưởng nữ lấy hào thứ nhất là hào Âm để định nghĩa, trung nam lấy hào thứ hai là hào Dương để định nghĩa, trung nữ lấy hào thứ hai là hào Âm để định nghĩa, thiếu nam lấy hào thứ ba là hào Dương để định nghĩa, thiếu nữ lấy hào thứ ba là hào Âm để định nghĩa. Phụ quái {cha} là toàn Dương, Mẫu quái {mẹ} là toàn âm. Nhân luân từ trưởng nam tới thiếu nữ có khác biệt, mà chúng ta sẽ phải nói đến sau. Hàm nghĩa việc chúng ta suy luận “Hậu thiên Bát quái” và “Vị lai Bát quái” là rất có tương quan.
Do Văn Dương đã định nghĩa lại mới Âm-Dương cho Bát quái, nên tiếp theo chúng ta phải xem lại quan hệ Âm-Dương giữa “Hậu thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực, bởi vì loại quan hệ đối ứng này đã được định nghĩa lại mới rồi. Mời xem Hình 6, đây chính là quan hệ giữa “Hậu thiên Bát quái phương vị” và Thái Cực.

Hình 6: Quan hệ giữa Hậu thiên Bát quái phương vị và Thái Cực
Nhìn vào đồ hình, chúng ta có thể thấy được điều gì? Chúng ta thấy được một loại kết cấu sắp xếp ‘nữ trên nam dưới’, cũng chính là điều mà Đạo gia gọi là thiên tượng “Âm Dương phản bối”. Như vậy thiên tượng mới này vì sao lại có Âm-Dương đảo ngược? Âm-Dương đảo ngược rốt cuộc có ý nghĩa gì? Có thể rất nhiều độc giả sẽ có thắc mắc này.
Chúng ta đã nói ở trước rằng, Dương khí thanh mà nhẹ, thăng lên trên; Âm khí đục mà nặng, hạ xuống dưới. Kết cấu ‘trái Dương phải Âm’ của “Tiên thiên Bát quái phương vị” khiến Âm-Dương chạy theo hai hướng khác nhau, không thể tương giao, không có cơ chế “sinh”, cũng chính là không có cơ chế “Thiên nhân đi xuống”. Còn thể hiện của “Hậu thiên Bát quái phương vị” là một loại hình tượng ‘trên Âm dưới Dương’. Chúng ta biết rằng, Dương nhẹ nên lẽ ra phải ở trên, Âm nặng nên lẽ ra phải ở dưới; ‘trên Dương dưới Âm’ mới là quan hệ sắp đặt đúng nhất của Âm-Dương. Thế nhưng quan hệ Âm-Dương biểu hiện trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại hoàn toàn tương phản, là ‘trên Âm dưới Dương’; đây chính là hiện tượng ‘Âm Dương phản bối’ được giảng trong Đạo gia.
Như vậy vì sao Âm-Dương lại đảo ngược? Vì sao Âm-Dương trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại đảo ngược? Đây mới là chỗ then chốt. Chẳng phải chúng ta đã từng nói qua rồi sao? “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên“. Câu nói này đã chỉ rõ ra chỗ mấu chốt.
‘Trên Âm dưới Dương” là vì điều gì? Chỉ có ‘trên Âm dưới Dương’, thì Âm-Dương mới có thể tương giao, bởi vì Âm khí nặng, phải hạ xuống, Dương khí nhẹ, phải thăng lên. Chỉ có ‘trên Âm dưới Dương’ thì giữa Âm hạ xuống và Dương thăng lên mới có thể tương hỗ tương giao. Chúng ta biết rằng, chỉ có nam-nữ tương giao mới có thể sinh dục, mới có thể sinh sôi đời sau, mới có cái gọi là sinh sản không ngừng, sinh sôi nhân loại; do đó chỉ có kết cấu đảo ngược ‘trên Âm dưới Dương’ mới có thể sản sinh xã hội nhân loại, mới có thể sản sinh con người; đây chính là ý nghĩa của con người trong vũ trụ, và mới có cái gọi là ‘nhân luân’. Âm Dương phản bối trong vũ trụ để sản sinh xã hội nhân loại mới là bản chất trong “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, mới là lý do Văn Vương căn cứ biến đổi thiên tượng của vũ trụ để đưa ra kết cấu Bát quái phương vị mới. Bởi vì không gian vũ trụ cần sản sinh người—đây là một loại ý nghĩa vũ trụ của con người.
Vậy thì trước thời Văn Vương chẳng lẽ không có con người? Chẳng phải Trụ Vương của nhà Thương cũng là người ư? Chẳng phải hai triều Hạ, Thương cũng đều có con người đấy sao? Chúng ta đã từng nói qua, người trước thời Văn Vương chỉ là một loại nhục thân của con người, thuộc người trên mặt đất; còn sau thời Văn Vương, bởi vì xã hội nhân loại có liên quan đến Chính Pháp vũ trụ bắt đầu, nên Thiên nhân {người từ trời} đã bắt đầu đi xuống; đây chính là nguyên thần của Thiên nhân bắt đầu nhập vào nhục thân của người trên mặt đất, cũng chính là ngày càng nhiều lớp da người trên mặt đất bắt đầu bị Thiên nhân chiếm hữu rồi. Biểu hiện Âm ở trên hạ xuống trong “Hậu thiên Bát quái” thực tế đã tiết lộ thiên tượng “Thiên nhân đi xuống”. Kỳ thực, điều gọi là ‘Thiên Địa tương giao mà sinh người’ và “Thiên nhân đi xuống” đều nói về cùng một sự việc, chẳng qua là góc độ quan sát khác nhau mà thôi. Lão Tử giảng: “Nhất sinh nhị, nhị sinh tam, tam sinh vạn vật“, chính là giảng một đạo lý. “Tam” chính là người trong tam tài ‘Thiên Địa nhân’, nghĩa là người do Thiên Địa tương giao mà sinh ra.
Hiện tượng “Thiên nhân đi xuống” này biểu hiện như thế nào tại nhân gian? Bởi vì “Thiên nhân đi xuống”, nên Thiên nhân cũng mang theo các chủng tư tưởng trên thiên thượng đến thế gian, trên mặt đất biểu hiện là bách gia chư tử tại Trung Quốc. Tư tưởng bách gia {trăm phái} xuất hiện vào cùng một thời gian. Tại Tây phương, tư tưởng bách gia ở vào cùng thời đại với Phật Thích Ca Mâu Ni ở Ấn Độ cổ, Socrates, Plato và Aristotle ở Hy Lạp cổ, và sau đó còn có Chúa Jesus. Văn minh nhân loại vì sao phát triển theo phương thức ‘bùng phát’, vì sao “khởi điểm đã là đỉnh điểm”? Chính bởi nguyên nhân “Thiên nhân đi xuống”. Ngoài ra, chúng ta còn có thể thấy rằng, “Hậu thiên Bát quái” đã tiết lộ một trách nhiệm định vị của nhân loại trong vũ trụ, chính là nam-nữ tương giao, sinh sôi không ngừng. Điều này khiến tôi liên tưởng tới các loại quan hệ hôn nhân biến dị trong xã hội nhân loại hiện đại, nào là đồng tính luyến ái, gia đình khắc đinh và kế hoạch hóa gia đình, hết thảy đều trái ngược với ý nguyện của Thần và sứ mệnh được an bài cho xã hội nhân loại. Như vậy vào lúc đại thẩm phán tối hậu tại nhân loại, với những tội ác được Thần chứng kiến ấy, liệu họ có thoát được không?!
Vì thế mới nói, “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương đã tiết lộ cảnh tượng “Vũ trụ tương giao mà sinh người, Thiên nhân đi xuống nhập da người”. Văn Vương thực ra chỉ nhìn thấy “Vũ trụ tương giao mà sinh người” chứ không thấy được cảnh tượng bách gia tranh minh {trăm phái tranh luận} và “Thiên nhân đi xuống nhập da người” phát sinh sau đó. Thiệu Tử cũng chưa chắc đã minh bạch hàm nghĩa chân chính của “Thiên nhân đi xuống”. Như vậy Thiên nhân vì sao phải đi xuống? Một số độc giả có thể nghĩ tới vấn đề này. Vấn đề này liên quan tới bí mật cuối cùng của Bát quái, liên quan tới bí mật sự tồn tại và sinh sôi của xã hội nhân loại, liên quan tới đại bí mật của vũ trụ (tương quan mật thiết với vũ trụ đầu tiên và vũ trụ tương lai). Những vấn đề này sẽ được chúng ta giải đáp ở các phần sau. Trong phần này độc giả chỉ cần biết rằng “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương đối ứng với Thái Cực ‘trên Âm dưới Dương’, là một hiện tượng ‘Âm Dương phản bối’, ngoài ra “Hậu thiên Bát quái phương vị” là phân Âm-Dương theo nhân luân nam-nữ. Độc giả trước mắt chỉ cần biết đến như vậy là được rồi.
(III) Từ Tiên thiên Bát quái phương vị suy ra Hậu thiên Bát quái phương vị
Sau đây tôi phải nói về việc tôi đã suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy như thế nào. Đây cũng là vấn đề chủ yếu trong loạt bài này, bởi vì nó là cơ sở để đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”; chỉ cần minh bạch cơ lý tương quan, thì đại đa số độc giả có thể tự mình suy luận ra “Vị lai Bát quái”, tôi tin chắc như vậy.
Chúng ta biết rằng, ý định ban đầu của «Kinh dịch» chính là khoa học về biến hóa, cũng chính là nghiên cứu về biến hóa, chẳng qua biến hóa có lớn có nhỏ, từ việc nhỏ như cát hung của cá nhân, cho tới việc lớn như hưng suy của triều đại và quốc gia, cũng như biến hóa của xã hội nhân loại và toàn vũ trụ, thậm chí là quy luật biến hóa của thiên thể. Người Trung Quốc thường gọi ‘biến hóa’ là ‘biến quái’, tức là hay thay đổi. Đây là học từ «Kinh dịch» mà ra. Như vậy căn cứ vào Dịch lý, chúng ta coi biến hóa như thế nào? Đây cũng là Lý biến hóa của «Kinh dịch» mà chúng ta phải nghiên cứu.
1. Nhị nguyên tam yếu tố
Chúng ta biết rằng, khoa học thực chứng Tây phương chính là giảng thuyết cố định, tư tưởng chủ đạo không giảng biến hóa, không nghiên cứu về biến hóa, còn giảng vật chất và tinh thần là ‘nhị phân’, từ đó mới có tranh luận triết học về vấn đề vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính. ‘Nhị phân pháp’ là giả thiết tiền đề của phương pháp luận và nhận thức luận Tây phương. Nhưng văn hóa truyền thống Đông phương chính là giảng ‘hợp nhất pháp’, không phải ‘nhị phân pháp’, ví như tư tưởng truyền thống Trung Quốc giảng “thiên nhân hợp nhất” {hợp nhất giữa Trời và người}, “tri hành hợp nhất” {hợp nhất giữa nhận thức và hành động}. Hệ thống giáo dục Trung Quốc hiện tại chỉ coi văn hóa truyền thống Trung Quốc là một loại tri thức để mà học, chứ không coi là một loại tư tưởng. Tuy nhiên nó thực sự là một hệ tư tưởng, nhưng hoàn toàn khác với hệ tư tưởng Tây phương. Thế nhưng rất nhiều người đã dùng phương pháp luận và tiêu chuẩn phán xét Tây phương để đánh giá hệ tư tưởng Đông phương, hoàn toàn là trống đánh xuôi, kèn thổi ngược, từ đó xuất hiện rất nhiều cái gọi là “chuyên gia” phủ định Trung y Trung Quốc.
Tôi khi làm luận văn Tiến sĩ cũng có suy nghĩ như vậy. Sách giáo khoa Trung Quốc truyền bá cho người ta cái gọi là “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính, đây là vấn đề căn bản của triết học”; loại nhận định này là hoàn toàn sai lầm, câu nói này bản thân nó đã là sự mâu thuẫn triết học và ngụy biện. Tại sao gọi là “vấn đề căn bản”? Như thế nào mới được gọi là “căn bản”? Nếu như trước vấn đề này không có vấn đề hoặc giả thiết nào, vậy thì vấn đề này bản thân nó không thể trở thành “căn bản” nào cả, bởi vì trước lô-gíc còn có vấn đề “căn bản” hơn, còn có tiền đề giả thiết, còn có “căn”. Tôi nói rằng “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính” chính là một giả thiết “nhị nguyên luận”. Nếu như vượt ra khỏi giả thiết “nhị nguyên luận”, thì mệnh đề này sẽ có vấn đề, không còn có ý nghĩa nữa. Tôi thường đưa ra một ví dụ này. Tôi nói nếu như gia đình có hai người con trai, thì chúng ta nghiên cứu ai là anh, ai là em mới có ý nghĩa thực tế. Còn nếu gia đình chỉ có con một, thì anh cũng là anh ta mà em cũng là anh ta, lớn nhỏ đều là anh ta, phân ra nào có ý nghĩa gì đâu? Tình huống ‘con một’ này cũng tương đương với ‘nhất nguyên luận’ và ‘hỗn nguyên luận’ trong triết học. Nếu gia đình này có mười người con trai, thì chúng ta nghiên cứu ai là anh, ai là em cũng không có ý nghĩa nữa. Đưa ra anh trai, em trai xong rồi, vậy thì tám người kia tính sao đây? Họ là do ai quản đây? Đây chính là tình huống ‘đa nguyên luận’ trong triết học. Do đó tôi cho rằng “vật chất là đệ nhất tính hay tinh thần là đệ nhất tính” là một ngụy vấn đề, hoàn hoàn không phải vấn đề căn bản của triết học. Điều này khiến chúng ta phải xem lại giả thiết ‘nhị phân pháp’. Chỉ có dùng ‘nhị phân pháp’ thì vật chất và tinh thần mới có thể phân chia. ‘Nhị phân pháp’ này xem ra rất công chính, nhưng thực ra không phải, bởi vì giả thiết của ‘nhị phân pháp’ là giả thiết khả phân; bản thân nó là một giả thiết ưu tiên vật chất tính, bởi chỉ có vật chất tính mới có tính khả phân và biệt lập. Lấy giả thiết mang tính vật chất để hướng đạo tính chất vật chất, sau đó lại hỏi “vật chất có trước hay tinh thần có trước”, đây chẳng phải sự trùng lặp lô-gíc là gì? Đã chỉ định cái gì có trước, sau đó lại hỏi cái nào có trước, chẳng khác nào tự phong cho mình chức quán quân, rồi sau đó lại hỏi mọi người ai là đệ nhất. Chẳng phải lừa gạt là gì?! Đây hoàn toàn là một loại lô-gíc cưỡng chế rõ ràng.
Tiếp theo, trong luận văn tôi nghĩ thế này, trước tiên chúng ta không thể nghiên cứu vấn đề ai là đệ nhất ai là đệ nhị, ‘nhị nguyên’ hoặc ‘nhị phân’ cần phải là ‘tam yếu tố’, chứ không chỉ là hai yếu tố. Cũng là nói rằng giữa ‘nhị nguyên’ {hai nguyên tố} nhất định phải có chủng quan hệ nào đó. Nếu không có quan hệ tương hỗ, thì cách phân chia ‘nhị nguyên’ này còn có ý nghĩa nào nữa? Tựa như một nam một nữ, giữa họ nhất định phải có quan hệ nào đó, mới có thể thành người một nhà. Ví dụ họ là vợ chồng, quan hệ phu thê, thì giữa họ mới có thể tương giao mà sản sinh đời sau. Chúng ta không thể tùy tiện ra phố tìm hai người nam nữ để khiến họ sinh hài tử được.
Do đó tôi luôn cho rằng là nhị nguyên tam yếu tố, thì yếu tố thứ ba này chính là quan hệ tương hỗ giữa hai nguyên tố. Từ đó tôi đem “quan hệ tương hỗ” coi như là một yếu tố để nghiên cứu. Loại nhận thức này của tôi đã có thể tìm thấy bằng chứng trong lý luận thông tin hiện đại. Ví dụ trong lý luận thông tin, chúng ta không thể đem biến lượng tương đối cố định ra làm biến lượng được, loại biến lượng này được gọi là “tồn lượng”; ngoài ra, chúng ta còn có dòng lưu chuyển thông tin gọi là “lưu lượng”. “Dòng thông tin” hoặc “lưu lượng” cũng biểu thị một “quan hệ tương hỗ” giữa các yếu tố cố định, là một lượng quan hệ, là biến lượng có thể nghiên cứu hoặc phân tích độc lập. Xin xem Hình 7. Tôi không muốn sử dụng thuật ngữ ‘nhị phân pháp’ về phân chia vật chất và tinh thần nữa, do đó tôi sử dụng hai thuật ngữ là ‘chủ thể’ và ‘khách thể’ để thay thế. 
2. Từ tam yếu tố đến tam tài Thiên Địa nhân
Sau đó tôi đã phát hiện ra rằng loại kết cấu nhị nguyên tam yếu tố này cũng chính là kết cấu tam tài Thiên Địa nhân của văn hóa truyền thống Trung Quốc (xem Hình 8). Nói thực, rất là hổ thẹn, bởi vì vào lúc làm luận văn Tiến sĩ thời ấy, tôi thậm chí còn chưa nghe qua kết cấu tam tài nào cả. Tôi cũng như dân chúng Trung Quốc Đại Lục, đều bị văn hóa đảng làm độc hại; tôi khi ấy biết rất ít về văn hóa truyền thống của tổ tiên.
Hình 8: Từ tam yếu tố đến kết cấu tam tài Thiên Địa nhân
3. Từ yếu tố “nhân” trong tam tài triển khai theo chiều ngang thành nhân trục

Hình 9: Triển khai yếu tố thứ ba theo chiều ngang
Tiếp đó, tôi đem yếu tố thứ ba triển khai theo chiều ngang; khi ấy tôi gọi là “trục quyết sách”, tham khảo Hình 9. Chúng ta không cần phải nghiên cứu tên gọi và ý nghĩa cụ thể của những yếu tố được triển khai này, bởi vì đây không phải ý nghĩa sở tại của bài viết; chúng ta quan trọng là phải sử dụng ý nghĩa của việc triển khai theo chiều ngang. Bởi vì nguyên luận văn là Anh văn, ví dụ từ “lực lượng” nghĩa tiếng Anh là “power”, đã có quyền, lại có thế, còn có ý nghĩa về lực; tuy nhiên “quyền thế” trong tiếng Trung rõ ràng là một từ mang hàm nghĩa xấu, do đó tôi đã sử dụng từ “lực lượng” để thay thế, tuy nhiên không có ý nghĩa về “thế”, không cách nào phản ánh được ý nghĩa từ “power”. Thực ra Trung văn đúng là như vậy, có từ với nội hàm thâm sâu khi phiên dịch thành Anh văn thì có sử dụng mười câu, trăm câu cũng không sao biểu đạt được. Đây chính là khác biệt về tư tưởng văn hóa. Tách khỏi hoàn cảnh văn hóa và ngôn ngữ, chỉ từ ý nghĩa văn tự mà lý giải thì không hiểu được hàm nghĩa thâm sâu.
Sau khi liễu giải được kết cấu tam tài Thiên Địa nhân, tôi trở lại vấn đề phương pháp luận của luận văn, thì phát hiện thấy “trục quyết sách” mà tôi xây dựng là đối ứng với triển khai “nhân trục” của kết cấu tam tài, tức là đem yếu tố “nhân” trong tam tài triển khai theo chiều ngang thành “nhân trục”, triển khai thành nhiều yếu tố theo chiều ngang—như yếu tố quyết sách, xem thêm Hình 10.

Hình 10: Triển khai 'nhân trục'

Hình 11: 'Nhân trục' và 'Thần trục" hình chữ thập
Đồng thời với triển khai “nhân trục” theo chiều ngang, tôi đem nguyên trục đứng Thiên Địa nhân gọi là “Thần trục”, xin xem Hình 11. “Thần trục” là hướng dọc, “nhân trục” là hướng ngang. Sau đó tôi dùng “trục chữ thập” này để nghiên cứu sự bất đồng trong tư tưởng và văn hóa giữa Đông và Tây phương. Văn hóa chủ lưu Tây phương, bao gồm truyền thống khoa học thực chứng mấy trăm năm qua, đều ở trên “nhân trục” nằm ngang. Tư tưởng Tây phương chính là nằm ngang, đều ở trên tầng thứ mà nhân loại đang tồn tại. Bởi vì ở trên tầng diện nằm ngang, nên không thể theo đuổi những thứ ở cao tầng, chỉ truy cầu kéo dài hoặc phát triển theo chiều ngang, truy cầu khuếch đại bán kính vật chất và bề ngoài. Nhưng tư tưởng Đông phương là theo chiều dọc, các bậc hiền triết và người tu luyện phương Đông đều truy cầu sự đề cao tầng thứ, đều nằm trên “Thần trục”, do đó văn hóa Đông phương giảng giáo hóa nhân tính, đề cao tâm tính.
“Nhân trục” còn gọi là “nhân thế trục”, “Thần trục” còn gọi là “Thần vũ trục”, trước đây tôi còn gọi là “Thiên trục”. Bởi vì “Thiên trục” dễ nhầm với Thiên Địa nhân và quẻ Thiên Càn, nên tôi thấy gọi là “Thần trục” hoặc “Thần vũ trục” thì tốt hơn.
Dịch từ:
4. Tôi suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương như thế nào?
Điều tôi nói ở đây gồm có một tiền đề và ba nguyên lý. Một tiền đề chính là tiền đề về phân trục như tôi vừa nói qua, với định nghĩa “nhân trục” nằm ngang và “Thần trục” nằm dọc. Vậy còn ba nguyên lý là gì? Chính là ba nguyên lý biến động, trong đó hai cái là nguyên lý biến động của vũ trụ, còn một cái là nguyên lý biến động của xã hội nhân loại hoặc điều chỉnh tùy động. Đây chính là ba nguyên lý, rất là giản đơn, không hề phức tạp.
Trước tiên chúng ta đem phương pháp phân trục hình chữ thập áp dụng vào “Tiên thiên Bát quái phương vị” của Phục Hy. Như vậy chúng ta được Hình 12. Hai quẻ Càn (☰), Khôn (☷) {Thiên, Địa} nằm trên ‘Thần vũ trục’. Bởi vì như chúng ta biết, nếu như đem Bát quái kết hợp với Ngũ hành, thì trung ương của Ngũ hành là Thổ, Thổ vượng tứ phương, trung ương là Thổ. Thổ cũng đại biểu cho người, văn hóa Trung Quốc “lấy Thổ làm tôn”, người sống trên đất, do vậy mới gọi là “Trung Thổ”. Bởi vì trung ương là người, cho nên “Thần vũ trục” cũng ẩn hàm quan hệ Thiên-Địa-nhân. Còn “nhân trục” nằm ngang triển khai thành Khảm (☵), Ly (☲) {Thủy, Hỏa}, đại biểu hai chủng vật chất không thể ly khai tại thế gian nhân loại; do đó hai quẻ Khảm, Ly đại biểu nhân loại, đại biểu “nhân thế trục” triển khai theo chiều ngang. Hình 12 chính là quan hệ giữa “Tiên thiên Bát quái” và trục hình chữ thập. Như vậy chúng ta đã chuẩn bị tiền đề để nghiên cứu biến hóa của Bát quái.

Hình 12: Tiên thiên Bát quái phương vị và trục hình chữ thập
Tiếp theo chúng ta phải nghiên cứu xem biến động như thế nào; đây chính là trọng tâm nhất của Dịch lý, là cơ lý về biến động. «Kinh dịch» chính là Dịch lý, cũng là Lý biến hóa. Vũ trụ biến động như thế nào? Thiên Địa biến động như thế nào? Xã hội nhân loại biến động như thế nào? Nhân loại cần biến động theo thiên tượng như thế nào? Đây đều là Dịch lý tối đại, tuyệt không đơn giản như những tiểu đạo về bói mệnh, toán quái.
Vậy thì rốt cuộc biến động như thế nào? Biến động của vũ trụ phản ánh ra sao trong biến đổi của Bát quái phương vị? Ban đầu tôi đã nghiên cứu gợi ý từ câu nói trong «Chuyển Pháp Luân», “Xoáy vào (thuận chiều kim đồng hồ) độ bản thân, xoáy ra (ngược chiều kim đồng hồ) độ nhân“, xin xem Hình 13. Pháp Luân xoáy vào (thuận chiều kim đồng hồ) đại biểu cho độ bản thân, hướng vào trong, tu luyện tự kỷ, yêu cầu tự kỷ, cải biến tự kỷ, đề cao tâm tính, đề thăng, trở về vũ trụ, phản bổn quy chân, v.v. Pháp Luân xoáy ra (ngược chiều kim đồng hồ) độ nhân, hướng ra ngoài, cứu người, hành động, cải biến thế giới, yêu cầu người khác, chỉ huy người khác, hạ xuống nhân gian, v.v. Để biết nội dung chi tiết, xin mời quý độc giả tìm đọc cuốn «Chuyển Pháp Luân» của Lý Hồng Chí Tiên sinh. Ý nghĩa của việc Pháp Luân chuyển động thuận chiều kim đồng hồ và ngược chiều kim đồng hồ đã gợi mở cho tôi. Nếu như vũ trụ lớn biến động, thì phản ánh như thế nào lên Bát quái phương vị? Ở trên chúng ta đã phân tích hai trục trong “Tiên thiên Bát quái”, như vậy đại biến động của vũ trụ nhất định sẽ phản ánh lên chuyển động của “nhân trục” và “Thần trục”. Vũ trụ phải biến động, mục đích là cải biến vũ trụ, là hành động, là cần cứu độ, là “Thiên nhân đi xuống”, do đó “Thần trục” phải xoay chuyển ngược chiều kim đồng hồ. Khi ấy tôi chính là nghĩ như vậy. Nhưng hiện tại tôi cho rằng, biến hóa từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị” là do Thần trục động, bởi vì Thiên nhân đi xuống. Bởi vì Thần trục động, nên nhất định phải khiến nhân trục hoán vị, nhân trục ở đây chỉ là động theo. Nhưng nhân trục động, chính là phản bổn quy chân; đây là nguyên nhân biến động từ “Hậu thiên Bát quái” sang “Vị lai Bát quái”.

Hình 13: Phương hướng và ý nghĩa sự xoay chuyển của Pháp Luân
“Thần trục” và “nhân trục” hoán vị cho nhau, đây là nguyên lý biến hóa thứ nhất để suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Phản ánh chính là sự kiện trọng đại “Thiên nhân đi xuống” trong vũ trụ. Cũng là nói rằng, đại biến động của vũ trụ trước tiên phản ánh ở sự đổi chỗ giữa “Thần trục” và “nhân trục” trong “Bát quái phương vị đồ”. Thông qua đổi chỗ giữa “Thần trục” và “nhân trục” (Hình 14), chúng ta được trạng thái quá độ thứ nhất từ “Tiên thiên Bát quái phương vị” sang “Hậu thiên Bát quái phương vị”, như thể hiện ở Hình 15.

Hình 14: Thần trục và nhân trục đổi chỗ

Hình 15: Từ Tiên thiên Bát quái chuyển sang trạng thái quá độ thứ nhất của Hậu thiên Bát quái
Tiếp theo tôi sẽ giới thiệu một khái niệm tương quan với Bát quái, đó là đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ {Trời tròn Đất vuông}, hoặc gọi là đồ hình ‘ngoại viên nội phương’ {ngoài tròn trong vuông}. Đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ này thuyết minh điều gì? Chính là nói, trên Bát quái phương vị đồ, bốn quẻ nằm trên “nhân thế trục” và “Thần vũ trục” là đại biểu bốn cực của hình tròn ‘Thiên viên’; còn bốn quẻ còn lại là nằm ở bốn góc của hình vuông ‘Địa phương’. ‘Thiên viên Địa phương’ cũng là nói rằng tròn đại biểu cho Trời, vuông đại biểu cho Đất. Tuy nhiên người viết cho rằng đây chỉ là một loại lý giải nông cạn. Tôi rất mong tiếp thu nhận thức về ‘ngoại viên nội phương’. Bản thân tôi cho rằng, tròn đại biểu bên ngoài, đại biểu cho “đại vũ trụ”, còn vuông đại biểu bên trong, đại biểu cho “tiểu vũ trụ”, hoặc hệ Ngân Hà mà nhân loại chúng ta đang cư ngụ.

Hình 16: Thiên viên Địa phương đồ
Như vậy, chúng ta phát hiện thấy Lý biến hóa mà chúng ta đã đề cập tương đương với đổi trục hoán vị bốn quẻ ở hình tròn bên ngoài, hơn nữa là chiểu theo cơ lý xoay chuyển của Pháp Luân. Loại chuyển hoán này chỉ liên quan đến bốn quẻ trên hình tròn bên ngoài, và không hề động tới bốn quẻ nằm tại bốn góc hình vuông bên trong. Như vậy bốn quẻ ‘tứ giác quái’ này biến hóa như thế nào? Lúc này phương vị Thái Cực mà chúng ta đã nói ở trước mới khởi tác dụng. Chúng ta thử đặt ‘Tiên thiên Thái Cực’ vào đồ hình ‘Thiên viên Địa phương’ thì sẽ rõ.

Hình 17: Thiên viên Địa phương của Tiên thiên Bát quái và Thái Cực
Tiếp theo, chúng ta phát hiện thấy chiểu theo Lý biến hóa của tiểu vũ trụ, tức hoán đổi theo Lý ‘Âm Dương phản bối’ của Thái Cực, thì chúng ta phải lấy ‘Thần vũ trục’ làm trục đối xứng để đổi chỗ bốn quẻ tại bốn góc của hình vuông, tức Tốn (☴) đổi cho Đoài (☱), Cấn (☶) đổi cho Chấn (☳). Khi này chúng ta sẽ được một đồ hình quá độ gọi là trạng thái quá độ thứ hai của Hậu thiên Bát quái, xem Hình 18.
Như vậy, Lý biến động của đại vũ trụ là Lý biến động của bốn quẻ nằm ở hình tròn bên ngoài {ngoại viên}, chiểu theo Lý xoay chuyển của Pháp Luân mà hoán trục; còn Lý biến động của tiểu vũ trụ là Lý biến động của bốn quẻ nằm tại bốn góc hình vuông bên trong {nội phương}, chiểu theo Lý của Thái Cực mà đảo chiều Âm-Dương.

Hình 18: Trạng thái quá độ thứ hai từ Tiên thiên Bát quái phương vị sang Hậu thiên Bát quái phương vị sau khi hoán trục
Trạng thái quá độ thứ hai này trông đã rất tương tự với “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, nhưng vẫn chưa giống hoàn toàn. Tiếp theo, cũng chính như câu nói đề tỉnh của Thiệu Ung: “Thiệu Tử nói, Bát quái này của Văn Vương là vị trí dùng cho người, tức cái học của hậu thiên“. Cũng là nói rằng, “Hậu thiên Bát quái phương vị” giảng chính là nhân lý, cái lý ở nhân gian; do đó sau khi “Thiên nhân đi xuống”, tức đại biến động hoán trục của đại vũ trụ và Âm-Dương đổi chỗ của tiểu vũ trụ, còn có điều chỉnh theo nhân lý ở nhân gian nữa. Đây chính là Lý biến động thứ ba, nhân gian biến lý.
Như vậy Lý ở nhân gian cần phải là như thế nào? Cũng có nghĩa là tiếp theo chúng ta phải đổi chỗ quẻ tượng như thế nào? Đầu tiên, bởi vì hai quẻ Càn, Khôn trong “Tiên thiên Bát quái” đại biểu Thiên, Địa, nên trong “Hậu thiên Bát quái” đại biểu Phụ, Mẫu. Chúng ta biết rằng, “Hậu thiên Bát quái” đại biểu nhân luân, mà xã hội nhân loại là sản vật của Thiên-Địa tương giao, nên chân chính đại biểu cho nhân luân không thể là hai quẻ Càn, Khôn, mà chỉ có thể là sáu quẻ còn lại. Bởi vì hai quẻ Càn, Khôn không thể vừa đại biểu Thiên, Địa, vừa đại biểu nhân luân sản sinh từ Thiên-Địa. Chính vì vậy hai quẻ Càn, Khôn chỉ có thể đại biểu Phụ, Mẫu {cha, mẹ} mà không thể đại biểu nhân luân, không thể đại biểu xã hội nhân loại, chỉ sử dụng sáu quẻ còn lại mới có thể đại biểu nhân luân, đại biểu xã hội nhân loại. Trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”, quẻ Càn là cực Dương, là thủ lĩnh các quẻ Dương; quẻ Khôn là cực Âm, là thủ lĩnh các quẻ Âm. Mời xem Hình 3, Thái Cực còn gọi là ‘Âm-Dương ngư’ {cá Âm-Dương}, nhìn theo hướng xoay chuyển theo chiều kim đồng hồ, thì đầu cá Dương tại Càn (☰), đầu cá Âm tại Khôn (☷).

Hình 3: Quan hệ giữa Tiên thiên Bát quái và Thái Cực
Hiện tại chuyển hoán thành “Hậu thiên Bát quái”, thì cần phải là Lý của người, tức nhân luân chi lý, không thể lấy Càn, Khôn {Phụ, Mẫu} để lãnh đạo Âm-Dương ngư được, bởi vì hai quẻ Càn, Khôn không nằm trong nhân luân, không thể tự mình sinh chính mình được. Như vậy nhân luân chi lý, cũng chính là Âm-Dương ngư của nhân luân, cần phải do ai dẫn đầu? Nếu như có thể tìm được đáp án cho vấn đề này, thì hết thảy bí mật của “Hậu thiên Bát quái phương vị” sẽ được khai mở.
Đáp án chính là “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ”. Nếu như đem trạng thái quá độ thứ hai trong Hình 18 mà đổi quẻ Càn (☰) {cha} cho quẻ Chấn (☳) {trưởng nam}, quẻ Khôn (☷) {mẹ} cho quẻ Đoài (☱) {thiếu nữ}, thì chúng ta sẽ được đồ hình “Hậu thiên Bát quái phương vị” của Văn Vương, không lệch chút nào.
Vậy thì vì sao phải đổi chỗ như thế? Vì sao phải lấy “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ”? Chúng ta biết rằng, trong “Tiên thiên Bát quái”, quẻ Càn là thuần Dương, cực Dương, đứng đầu quần Dương, dẫn đầu Dương ngư; quẻ Khôn là thuần Âm, cực Âm, đứng đầu quần Âm, dẫn đầu Âm ngư. Trong “Hậu thiên Bát quái” hiện tại, hai quẻ Càn, Khôn {Phụ, Mẫu} không nằm trong nhân luân, thuộc bậc cha chú của “Hậu thiên Bát quái”, cũng chính là mang theo thuộc tính của “Tiên thiên Bát quái”; như vậy tiếp theo ai sẽ dẫn đầu Âm-Dương đây? Hiển nhiên trong sáu quẻ nhân luân, trưởng nam có thể dẫn dắt quần Dương, bởi rằng Dương giả, lấy trưởng làm tôn. Cũng như điều chúng ta từng nói qua, 7, 9 đều là số Dương, lấy 9 đại biểu cho Dương, số Dương cần phải lấy trưởng giả. Còn Âm giả, là lấy thiếu làm tôn, 6, 8 đều là số Âm, lấy 6 đại biểu cho Âm, số Âm cần phải lấy thiếu giả. Do đó thiếu nữ đại biểu cho mẹ, chứ không phải trưởng nữ đại biểu cho mẹ. Chính là ý nghĩa này.
Vậy thì Lý nhân luân “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ” còn có hàm nghĩa hoặc ý nghĩa nào khác nữa? Chúng ta giảng ý nghĩa là đa phương diện, ở đây chỉ xin đơn cử hai ý nghĩa.
Trước tiên, từ trưởng nam cho đến thiếu nữ, là đại biểu cho tất cả con cái trong nhà ở một xã hội truyền thống. Chúng ta biết rằng, xã hội truyền thống được gắn bó bởi sợi dây huyết mạch gia đình, trong nhà giảng “trong trăm cái thiện, đức hiếu làm đầu”. Đây là luân lý tối căn bản, là yêu cầu đối với con cái.
Lại nữa, xét từ góc độ xã hội, “con trai cả thay cha” có ý nghĩa gì? Con trai cả trong toàn xã hội là ai? Chính là Thiên Tử. Thiên là cha, nhi tử của Thiên, con trai cả của Trời chẳng phải chính là Thiên Tử hay sao! Do đó Thiên Tử đại biểu cho sự tôn quý bậc nhất ở nhân gian. Vậy còn con gái út {thiếu nữ} thì sao? Trong xã hội truyền thống, người phụ nữ có vị trí thấp kém; con gái út đại biểu cho nhân sỹ tầng thấp cực kỳ hèn mọn, đại biểu cho nữ tỳ {hầu gái}. Như vậy từ trưởng nam cho đến thiếu nữ cũng là đại biểu từ Thiên Tử cho đến nô tỳ, tức toàn bộ thành viên trong xã hội nhân loại. Chính là ý nghĩa này.
Ở đây tôi cần nói thêm rằng, sau khi Văn Vương đưa ra “Hậu thiên Bát quái”, thì xã hội Trung Quốc cũng tiến nhập vào “thời đại Thiên Tử”. Khoảng thời gian này kéo dài 3.000 năm. Như chúng ta biết, vào thời nhà Hạ, nhà Thương trước nhà Chu, Đế vương đều được gọi là “Đại vương”, ngay cả Trụ vương nhà Thương tự cao tự đại cũng chỉ được gọi là ‘vương’. Ở dưới ‘vương’ là ‘hầu’, ‘hầu’ các phương được gọi là ‘chư hầu’. Chỉ sau thời Văn Vương, nhà Chu được khai sáng mới có danh xưng ‘Thiên Tử’. Do đó, sự phân chia thời kỳ lịch sử của tôi là hoàn toàn khác với những gì được giảng trong văn hóa đảng. Xã hội truyền thống Trung Quốc có thể được phân thành “thời đại Thần truyền” hay “thời đại Đế vương” đối ứng với “Tiên thiên Bát quái” và “thời đại bán-Thần” hay “thời đại Thiên Tử” đối ứng với “Hậu thiên Bát quái”. “Thời đại Thần truyền” là hai triều Hạ, Thương và thời đại trước đó, bao gồm cả thời đại truyền thuyết từ Phục Hy đến Ngũ Đế, với rất ít văn tự ghi lại và văn hóa tư tưởng lưu truyền. Vì sao? Nguyên nhân nhất định không phải cái gọi là ‘lực lượng sản xuất lạc hậu’ được giảng trong văn hóa đảng. Chính là bởi vì Thần không cho phép những thứ này được lưu truyền, bởi chúng không có quan hệ với Chính Pháp vũ trụ và “Thiên nhân đi xuống”; chúng là đối ứng với “Tiên thiên Bát quái”, không có quan hệ với “Hậu thiên Bát quái”. Mà “thời đại Thiên Tử” là từ Tây Chu đến khi Mãn Thanh diệt vong năm 1911, tổng cộng 3.000 năm. Đây cũng là sự phân chia lịch sử mà tôi căn cứ theo biến hóa của thiên tượng để đưa ra. “Thời đại Thần truyền” cũng là thời đại “Tiên thiên Bát quái phương vị”, “thời đại Thiên Tử” cũng là thời đại “Hậu thiên Bát quái phương vị”, là thời đại kiến lập văn hóa nhân loại, chuẩn bị cho “Vị lai Bát quái phương vị”, cũng là thời đại chuẩn bị văn hóa và tư tưởng cho Chính Pháp vũ trụ. Tôi nói như vậy, có thể rất nhiều độc giả không hiểu lắm, hoặc không tin lắm; tuy nhiên tôi không nói thì không được, bởi vì những điều này có tương quan mật thiết với “Vị lai Bát quái” sẽ được trình bày ở sau.
5. Ý nghĩa suy luận Hậu thiên Bát quái phương vị
Như vậy suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” còn có ý nghĩa gì nữa? Trước hết, đây là cơ sở lý luận vững chắc để chúng ta đưa ra “Vị lai Bát quái”. Từ “Tiên thiên Bát quái” đưa ra “Hậu thiên Bát quái” có thể nói là một loại diễn tập và kiểm chứng tính chính xác. Một khi có thể suy luận thành công, thì tự nhiên có thể đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”; bởi vì quẻ tượng tuy có thể cải biến, nhưng Lý biến động của quẻ tượng là bất biến; tức cơ lý hoán trục vũ trụ và điều chỉnh hoán vị là bất biến, sự biến lý bất biến.
Ngoài ra, có lẽ cơ lý hoán trục, đảo chiều, đổi quẻ của Bát quái phương vị là một loại bản ý của “dịch”, mới là căn bản của Dịch học. Xưa nay lý giải của người ta đối với “dịch” chỉ là ở trên tầng thứ nhỏ hẹp. Quái lý kiến lập trên cơ sở “Hậu thiên Bát quái” mấy nghìn năm qua đều có “biến hóa” rất hữu hạn.
Hơn nữa, nhờ kết hợp “Tiên thiên Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái phương vị”, tôi mới có thể trình bày một khái niệm phi thường trọng yếu trong truyền thống tư tưởng phương Đông—thuyết tuần hoàn. Chúng ta biết rằng, thuyết tuần hoàn là tư tưởng mang đậm sắc thái phương Đông, trong thể hệ khoa học thực chứng phương Tây không hề có khái niệm này. Tư tưởng luân hồi của Phật gia cũng có quan hệ với tuần hoàn, nhân quả báo ứng cũng như vậy.
Tư tưởng Tây phương không giảng tuần hoàn. Khoa học thực chứng của phương Tây giảng điều gì? Là thuyết về trật tự vũ trụ. Từ thuyết trật tự mới dẫn tới quan điểm về phát triển tuyến tính. Về điểm này, trong «Thương nghiệp kiểu mẫu» tôi đã có khá nhiều phân tích. Ở đây xin không nhắc lại nữa. Đảng cộng sản Trung Quốc hiện tại tâng bốc cái gọi là “quan điểm phát triển khoa học”, chẳng qua chỉ là hàng ngoại nhập, chẳng có quan hệ gì với tư tưởng truyền thống Trung Quốc. Bởi vì có quan điểm tuần hoàn trong văn hóa truyền thống Trung Quốc nên mới có tư tưởng “trung dung”. “Trung dung” tuyệt không phải là truy cầu phát triển để thỏa mãn lợi ích, hoặc càng nhiều thì càng tốt. Thượng hào của Bát quái giảng chính là “Kháng long hữu hối” {rồng cao ngạo thì phải hối tiếc}, cũng là đạo lý “hăng quá hóa dở”. Bởi vì trung dung thủ chính, nên tư tưởng truyền thống không hề cổ súy cách làm cực đoan, cũng không hề truy cầu phát triển.
Ngoài ra, tuần hoàn có nghĩa là gì? Điều gì gọi là tuần hoàn? Có thể có người nói, câu hỏi này thật là ngớ ngẩn. Kỳ thực, tuần hoàn không phải là chuyển động hình tròn hết vòng này đến vòng khác, điều này hỏi ai hiểu rõ? Nếu bạn có nhận thức như vậy, thì ấy là bởi bạn chưa biết ý nghĩa chân chính của tuần hoàn là gì. Tuần hoàn xác thực là xoay tròn, nhưng xoay như thế nào?
Trên thực tế, tuần hoàn theo vòng tròn mà đại đa số chúng ta biết đều thuộc về tuần hoàn theo ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái phương vị”. Đây cũng gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, theo thứ tự Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Nó là một vòng đi theo đường biên ngoài của hình tròn, hoặc thuận chiều kim đồng hồ, hoặc ngược chiều kim đồng hồ. Đây gọi là ‘viên chu tuần hoàn’, là tuần hoàn mang ý nghĩa hậu thiên. Người bình thường chỉ biết được tuần hoàn mang ý nghĩa như vậy.
Còn có một chủng phương thức tuần hoàn nữa, mà trong tư tưởng Tây phương càng không có khái niệm này, gọi là ‘Thái Cực tuần hoàn’. Đây chính là tuần hoàn mà tôi đã nói qua trong “Tiên thiên Bát quái phương vị”, đó là 1 Càn, 2 Đoài, 3 Ly, 4 Chấn, 5 Tốn, 6 Khảm, 7 Cấn, 8 Khôn.
Đổi sang một góc độ khác mà giảng, ‘viên chu tuần hoàn’ là một loại tuần hoàn xuyên thẳng vuông góc với mặt giao giới Âm-Dương. Chúng ta có thể lấy quả địa cầu làm ví dụ. Thái Cực của “Hậu thiên Bát quái phương vị” là trên Âm dưới Dương, cũng tương đương với Nam bán cầu và Bắc bán cầu trên quả địa cầu. Bắc bán cầu đại biểu Âm, Nam bán cầu đại biểu Dương. Tuyến giao giới Nam-Bắc Âm-Dương cũng tương đương với đường xích đạo. Như vậy cái gì trên quả địa cầu Nam-Bắc “Hậu thiên Bát quái” này là viên chu tuần hoàn? Chính là bất cứ đường kinh tuyến hình tròn nào chạy xuyên qua đường xích đạo. Đương nhiên trên “Hậu thiên Thái Cực” chỉ có một viên chu tuần hoàn, chứ không như trên quả địa cầu có vô số đường kinh tuyến hình tròn.
Vậy thì ‘Thái Cực tuần hoàn’ là gì? Thái Cực tuần hoàn chính là tuần hoàn men theo tuyến giao giới Âm-Dương. Nếu có thể quan sát “Tiên thiên Thái Cực” một cách lập thể chứ không phải trên mặt phẳng, thì các bạn sẽ hiểu được cảm giác tuyến giao giới Âm-Dương mà tôi vừa nói. Loại quan sát này hơi khó. Chúng ta có thể lại lấy quả địa cầu làm ví dụ. Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Thái Cực” là phân bố theo trái Dương phải Âm, như vậy ví dụ hình tượng là chúng ta có thể lấy Đông bán cầu là Dương, Tây bán cầu là Âm. Vậy đâu là Thái Cực tuần hoàn? Chính là đường kinh tuyến hình tròn phân chia Đông-Tây bán cầu, trên quả địa cầu là hình tròn hợp thành bởi đường kinh tuyến Greenwich, Anh quốc và đường đổi ngày quốc tế. Đây là chúng ta chỉ lấy làm ví dụ mà thôi.
Tôi lý giải như thế này: ‘viên chu tuần hoàn’ đối ứng với ‘tý ngọ chu thiên’ mà Đạo gia giảng, còn gọi là càn khôn vận chuyển, hoặc hà xa vận chuyển; còn ‘Thái Cực tuần hoàn’ đối ứng với điều gọi là ‘mão dậu chu thiên’. Loại chu thiên này là không được tùy ý giảng cho người ngoài nghe. Về hàm nghĩa chuẩn xác của tý ngọ chu thiên và mão dậu chu thiên, mời quý độc giả tham khảo luận thuật tương quan trong «Chuyển Pháp Luân», lý giải của tôi không nhất định là chuẩn xác.
Ngoài ra, tôi vừa mới phát hiện, loại hình điều quái mà tôi nói ở trên chính là phù hợp với nguyên lý tam tài Thiên-Địa-nhân, trong đó nguyên lý biến động thứ nhất là bốn quẻ Thiên viên {Trời tròn}, chiểu theo Lý xoay chuyển của Pháp Luân, tiến hành hoán đổi nhân trục và Thần trục, thuộc Thiên biến chi lý. Bởi vì là bốn quẻ Thiên viên, nên chuyển động theo quỹ đạo hình tròn của Pháp Luân; nguyên lý biến động thứ hai, là theo bốn quẻ Địa phương {Đất vuông}, chiểu theo nguyên lý Thái Cực, tiến hành đổi chỗ theo Âm-Dương đảo chiều, thuộc Địa biến chi lý. Tiếp đó nguyên lý biến động thứ ba, là bốn quẻ nhân luân, chiểu theo Lý trưởng ấu {con trưởng, con út}, tiến hành đổi chỗ hai cặp, thuộc nhân biến chi lý. Căn cứ vào ba nguyên lý biến động này, mỗi lần đều là đổi chỗ bốn quẻ, hợp lại chính là biến động của tam tài Thiên-Địa-nhân.
(IV) Từ Hậu thiên Bát quái phương vị suy ra Vị lai Bát quái phương vị
1. Đưa ra Vị lai Bát quái phương vị
Ở trước tôi đã nói qua, sau khi suy luận được “Hậu thiên Bát quái phương vị” thì việc đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị” là rất đơn giản, thế nhưng kết quả lại không hề đơn giản chút nào. Trước tiên chúng ta hãy mô phỏng trình tự suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” với những “tiền đề” và đặt “Hậu thiên Bát quái phương vị” lên trục hình chữ thập như Hình 19.

Hình 19: Hậu thiên Bát quái phương vị và trục hình chữ thập
Như vậy tiếp theo chúng ta phải làm gì nữa? Theo kinh nghiệm suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”, chúng ta phải chiểu theo Lý biến hóa của vũ trụ để tiến hành đổi trục, cũng chính là đem “nhân trục” và “Thần trục” đổi chỗ cho nhau. Tuy lần này cũng là đổi trục, nhưng ý nghĩa đổi trục là khác với lần trước. Khác ở chỗ nào? Lần trước đổi trục là đối ứng với thiên tượng “Thiên nhân đi xuống” của vũ trụ, do đó “Thần trục” chuyển động ngược chiều kim đồng hồ là trục chủ động, “nhân trục” chuyển động chỉ là một loại động theo. Về điểm này, chúng ta đã trình bày ở trước rồi. Còn lần này ý nghĩa đổi trục là khác với “Thiên nhân đi xuống”, mà phản ánh thiên tượng vũ trụ là người trên trái đất (bộ phận những người tu luyện tốt) cần trở về vũ trụ, là một loại cảnh tượng “phản bổn quy chân”; do đó “nhân trục” xoay chuyển thuận chiều kim đồng hồ mới là trục chủ động, còn “Thần trục” xoay chuyển ngược chiều kim đồng hồ chỉ là một loại hưởng ứng. Khi thêm hình chuyển trục vào “Hậu thiên Bát quái phương vị” thì chúng ta được Hình 20.

Hình 20: Cảnh tượng chuyển động của Hậu thiên Bát quái phương vị
Chúng ta giảng rằng Lý biến động thứ nhất của đổi trục là Lý biến động của đại vũ trụ. Từ cảnh tượng chuyển trục này, tôi đã rút ra được một số thông tin quan trọng. Đây là suy đoán của cá nhân tôi, nhưng tôi vẫn cần phải nói ra. Chính là chúng ta có thể thấy “Thần trục” xoay chuyển mang hàm nghĩa “Thiên hỏa hàng” {lửa trời rơi xuống} (quẻ Ly (☲) từ trên đỉnh đi xuống) và “Hoàng tuyền thăng” {suối vàng thăng lên} (quẻ Khảm (☵) từ dưới đáy đi lên). Đây là chúng ta dùng hàm nghĩa của “Tiên thiên Bát quái” để tiến hành giải thích. Tất nhiên “Thần trục” xoay ngược chiều kim đồng hồ còn có một ý nghĩa nữa, mà chúng ta sẽ phải thảo luận.

Hình 21: Trạng thái quá độ thứ nhất từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị
Sau khi đổi trục, chúng ta được trạng thái quá độ thứ nhất từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị. Tiếp theo chúng ta tất phải chiểu theo Lý Thái Cực của tiểu vũ trụ để tiến hành đảo chiều Âm-Dương, đưa Thái Cực vốn đảo ngược được đảo trở lại.
Trong Hình 22 ở dưới, chúng ta đưa Hậu thiên Thái Cực với Âm trên Dương dưới vào đồ hình quá độ, rồi lại chiểu theo Lý tiểu vũ trụ của Thái Cực để tiến hành điều quái qua trục đối xứng là “nhân trục”, lần lượt đổi Khôn (☷) cho Càn (☰), Tốn (☴) cho Cấn (☶).

Hình 22: Điều quái đảo ngược Thái Cực để đưa ra Vị lai Bát quái
Sau khi đảo ngược theo Thái Cực, chúng ta được đồ hình quá độ thứ hai, xin xem Hình 23.

Hình 23: Trạng thái quá độ thứ hai từ Hậu thiên Bát quái phương vị sang Vị lai Bát quái phương vị
Tiếp theo, chúng ta vẫn phải điều quái tiếp. Khi suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị”, chúng ta là chiểu theo “Con trai cả thay cha, con gái út thay mẹ” (Trường tử đại phụ, thiếu nữ đại mẫu) để điều quái, còn lần này thì sao đây? Lần trước chúng ta đã điều bốn quẻ, và lần này cũng cần phải điều bốn quẻ.
Lần trước chúng ta đã biết rằng, chiểu theo Lý tiên thiên thì trái là Dương phải là Âm, nam tả nữ hữu. Nhưng hiện tại chúng ta có trung nữ (quẻ Ly) nằm bên trái, trung nam (quẻ Khảm) nằm bên phải, là cảnh tượng nam-nữ đảo ngược, do đó nhất định phải chiểu theo nam tả nữ hữu, trái Dương phải Âm để tiến hành điều quái, đổi chỗ hai quẻ Ly, Khảm. Tiếp theo, chúng ta còn phải tuân theo “trưởng trên thiếu dưới”, tức nguyên tắc nhân luân người trưởng ở trên, người út ở dưới để tiến hành điều quái, đem hai quẻ Tốn, Cấn đổi chỗ cho nhau (có thể lý giải chiểu theo tự nhiên là gió mây {Tốn} ở trên, núi non {Cấn} ở dưới để tiến hành điều chỉnh). Khi này chúng ta được Hình 24 ở bên dưới. Đây cũng là đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”.

Hình 24: Vị lai Bát quái phương vị đồ
Tại sao tôi khẳng định đây chính là đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”? Ở đây có nguyên nhân nhiều phương diện. Trước hết là bởi vì, tôi chiểu theo chặt chẽ phương pháp và nguyên lý suy luận “Hậu thiên Bát quái phương vị” để tiến hành đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, với lần trước làm thí nghiệm và bảo đảm. Thứ hai, tôi có thể giải thích thông suốt mọi nguyên lý trong quá trình đưa ra. Thứ ba chính là kết quả đưa ra này có thể tiết lộ các thông tin. Hai điều đầu tiên chúng ta không bàn luận nữa. Sau đây chúng ta chủ yếu nói về phương diện thứ ba, cũng chính là hàm nghĩa của “Vị lai Bát quái phương vị”.
Trước khi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”, tôi vẫn luôn tưởng tượng về hình dạng của “Vị lai Bát quái”. Chúng ta biết rằng, định nghĩa của “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái” đối với Âm-Dương là khác nhau. “Tiên thiên Bát quái” định nghĩa theo vị trí sơ hào, còn “Hậu thiên Bát quái” là lấy thuộc tính Âm-Dương của một hào nào đó để xác định Âm-Dương của quẻ tượng, từ Lý của vạn vật tự nhiên biến thành Lý nhân luân. Như vậy Âm-Dương của “Vị lai Bát quái” định nghĩa như thế nào? Bởi vì phương pháp hào và hào vị đều đã được sử dụng qua, như vậy tiếp theo chúng ta sử dụng phương pháp nào để định nghĩa Âm-Dương cho quẻ tượng? Sử dụng hào vị khác chăng? Liệu có còn thông qua biến hóa hào vị để phản ánh vũ trụ mới hoặc thuộc tính của vũ trụ thứ hai hay không? Trước đây tôi vẫn cứ nghĩ mãi về vấn đề này. Ngoài ra, tôi còn có một suy nghĩ thế này. Chúng ta biết rằng, “Tiên thiên Thái Cực” là trái Dương phải Âm, còn “Hậu thiên Thái Cực” là Âm trên Dương dưới, Âm-Dương đảo chiều; như vậy “Vị lai Thái Cực” nhất định phải quy chính trạng thái ‘Âm Dương phản bối’ này, nhất định phải là Dương trên Âm dưới, Âm-Dương không thể tương giao nữa, là cảnh tượng ổn định vĩnh hằng. Đây là cách nghĩ của tôi trước khi đưa ra “Vị lai Bát quái”, và cũng là kỳ vọng của tôi. Tuy nhiên kết quả việc đưa ra “Vị lai Bát quái” này lại thực sự vượt ra khỏi sự tưởng tượng và kỳ vọng của tôi. Trên thực tế, kết quả đưa ra không chỉ thỏa mãn yêu cầu ban đầu của tôi, mà còn chấn động hơn nữa, hoàn toàn vượt xa sự tưởng tượng của tôi. Thế nhưng kết quả này không thể cắt đứt quan hệ với “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái”, thậm chí có thể nói “Tiên thiên Bát quái” và “Hậu thiên Bát quái” căn bản chỉ là để phục vụ cho “Vị lai Bát quái”, là bước chuẩn bị. Chúng nguyên là cùng một thể với tự nhiên. Đây là một phương diện khiến tôi vô cùng kinh ngạc.
2. Tầng ngụ ý thứ nhất của Vị lai Bát quái phương vị
Nói nhiều như vậy, chẳng bằng chúng ta xem thử hàm nghĩa các phương diện của “Vị lai Bát quái phương vị” mà tôi đã đưa ra. Trước tiên chúng ta chiểu theo ý nghĩa “Tiên thiên Bát quái” để tiến hành phân tích, cũng là phân tích theo ý nghĩa vạn vật tự nhiên trong vũ trụ. Mời tham khảo Hình 25, cũng là ý nghĩa đối ứng với vạn vật trong vũ trụ của “Vị lai Bát quái phương vị”.

Hình 25: Ngụ ý vạn vật tự nhiên của Vị lai Bát quái phương vị, tức ngụ ý tiên thiên của Vị lai Bát quái
Thoạt nhìn Hình 25, độc giả có thể còn chưa có cảm giác gì. Thế nhưng một khi đưa Thái Cực vào đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”, thì chúng ta có thể nhìn một cái là rõ ngay. Hình 26 thể hiện quan hệ giữa “Vị lai Bát quái phương vị” và Thái Cực.

Hình 26: Vị lai Bát quái phương vị và Thái Cực
Hình 26 chính là thể hiện cảnh tượng mà tôi mong đợi, Dương trên Âm dưới, Thiên Phong Lôi Điện (Càn, Tốn, Chấn, Ly) tứ tượng trên trời đều nằm ở phần trên của Thái Cực, trở về thiên tượng, làm Dương; Địa Sơn Trạch Thủy (Khôn, Cấn, Đoài, Khảm) tứ tượng dưới đất đều nằm ở phần dưới của Thái Cực, trở về địa tượng, làm Âm. Trời trên Đất dưới, Dương trên Âm dưới, đây là điều chúng ta cần, cũng chính là kỳ vọng của tôi. Thế nhưng loại Bát quái phương vị này xác thực là đã định nghĩa lại Âm-Dương, không còn dựa trên hào vị nữa, mà là hàm nghĩa bản nguyên của vạn vật vũ trụ trong “Tiên thiên Bát quái”. Hơn nữa loại phân biệt Âm-Dương này là tự nhiên mà đúng, cao minh hơn rất nhiều tưởng tượng ban đầu của tôi. “Chính là nó, nó là đây”. Đây là cảm giác đầu tiên của tôi khi nhìn những quẻ tượng này, giống như cảm giác lâu ngày không gặp vậy.
Tiếp đó tôi tiến thêm một bước nữa để quan sát, thì phát hiện thấy “Vị lai Bát quái phương vị” này là cảnh tượng “vạn vật quy vị” sau khi vũ trụ được Chính Pháp. Tứ tượng trên trời nhẹ mà ở trên, tứ tượng dưới đất nặng mà ở dưới, hơn nữa không lại là cảnh tượng đối lập hoàn toàn của vũ trụ ban đầu mà “Tiên thiên Bát quái” phản ánh nữa. Đây là tầng hàm nghĩa thứ nhất mà tôi nhìn thấy từ đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”, cũng là tầng hàm nghĩa liên quan tới “Tiên thiên Bát quái phương vị”, đại biểu cảnh tượng “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Ngụ ý này đã khiến tôi rất kinh ngạc. Tuy nhiên kết quả tiếp theo không chỉ khiến tôi cảm thấy kinh ngạc, mà chỉ có thể dùng từ “chấn động” để hình dung.
3. Tầng ngụ ý thứ hai của Vị lai Bát quái phương vị
Như vậy tiếp theo đây, chúng ta cần tiết lộ thêm điều gì nữa? Ấy chính là quan hệ giữa “Vị lai Bát quái phương vị” và “Hậu thiên Bát quái”, cũng chính là dùng quan điểm hoặc ngụ ý nào của “Hậu thiên Bát quái” để xem xét và giải thích “Vị lai Bát quái phương vị”. Bởi vì trước đây chúng ta đã sử dụng ngụ ý “Tiên thiên Bát quái” để giải thích “Vị lai Bát quái phương vị” và đưa ra kết luận “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Như vậy chúng ta thử đổi góc độ quan sát và giải thích, đổi sang góc độ “Hậu thiên Bát quái” thì có thể thấy được điều gì? Cách nghĩ này là hết sức tự nhiên. Tôi nghĩ độc giả cũng có cùng suy nghĩ như vậy. Hình 27 bên dưới chính là ngụ ý hậu thiên của “Vị lai Bát quái”.

Hình 27: Ngụ ý hậu thiên của Vị lai Bát quái phương vị
Đối với người không tu luyện, Hình 27 có thể không nhìn ra điều gì, thế nhưng đối với người tu luyện, hoặc người tín ngưỡng Thần, kết quả tiết lộ từ bức hình này khiến người ta kinh ngạc. Xin cho phép tôi nói chậm một chút. Đối với những người vô thần hoặc “theo chủ nghĩa duy vật”, xin cứ coi đây là một câu chuyện để đọc cho vui vậy.
Trước tiên, chúng ta biết rằng, “Hậu thiên Bát quái” chính là đại biểu cho nhân luân, thế nhưng hai quẻ Càn, Khôn trong “Hậu thiên Bát quái phương vị” lại không tiến nhập vào nhân luân. Do đó trong “Vị lai Bát quái phương vị” cũng như vậy, chúng ta vẫn bảo lưu bản ý tiên thiên của hai quẻ Càn (☰), Khôn (☷); Càn là Trời, Khôn là Đất. Hai quẻ này là khởi tác dụng làm cơ điểm tham khảo, sau đây chúng ta sẽ thấy được.
Tiếp theo chúng ta thấy rằng, “Vị lai Bát quái phương vị” đại biểu cho cảnh tượng “nhân Thần quy vị” sau khi “vạn vật quy vị” trong vũ trụ. Chúng ta biết rằng, chiểu theo ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái”, từ trưởng nam đến thiếu nữ là đại biểu toàn bộ thành viên trong xã hội nhân loại. Nhưng trong “Vị lai Bát quái”, trưởng nam, trường nữ, trung nam, trung nữ, thiếu nam, thiếu nữ lại thay nhau đại biểu cho sáu vị trí khác nhau khi nhân loại trở về vũ trụ, hay theo Phật gia giảng là sáu loại quả vị khác nhau. Đây hoàn toàn là khắc họa chân thực bài thơ “Vô đề” trong tập «Hồng Ngâm II» của Đại sư Lý Hồng Chí: “…Thần nhân quỷ súc diệt, Vị trí tự kỷ định“.
Để tiện phân tích, chúng ta đưa thêm trục hình chữ thập vào đồ hình “Vị lai Bát quái phương vị”. Vậy là chúng ta được Hình 28; trong đồ hình chúng ta có thể thấy rõ “nhân thế trục” {nằm ngang} và “Thần vũ trục” {nằm dọc}.

Hình 28: Vị lai Bát quái phương vị và trục hình chữ thập
Nói cụ thể, “Vị lai Bát quái phương vị” phản ánh cảnh tượng “nhân Thần quy vị” như thế nào? Ở đây, trên thực tế chúng ta đã tiến hành định nghĩa lại mới sáu vị trí nhân luân. ‘Trưởng giả’ {người cả} trong nhân luân, bao gồm trưởng nam, trưởng nữ, cũng chính là điều mà Lão Tử gọi là “thượng sỹ”; thượng sỹ nghe Đạo để rồi đắc Pháp tu luyện, do đó họ là có quả vị trong tương lai. Trưởng nam {quẻ Chấn (☳)} là thuần Dương, nhưng ở đây không hề đại biểu nam trong nam-nữ, mà đại biểu cho nhóm những người tu luyện tốt nhất. Quả vị trong tương lai của họ là vượt quá vị trí của Trời (vị trí quẻ Càn (☰) ở đây đại biểu cho một loại vị trí tham chiếu trong vũ trụ), có thể đạt tới cực của vũ trụ (trên cùng của “Thần vũ trục”), so với Trời (quẻ Càn) còn cao hơn. Loại quả vị này là vĩnh hằng; vũ trụ là bất diệt, quả vị cũng bất diệt. Đây là một loại kết cục ở vị trí tối cao nhất, tốt nhất. Tôi cần phải thuyết minh một chút ở đây, đó là chỉ có đến lúc này, chúng ta mới có thể lĩnh hội tương đối đầy đủ ngụ ý chân chính của “Thần trục” hoặc “Thần vũ trục”.
Tiếp theo là điều gọi là ‘trưởng nữ’ {quẻ Tốn (☴)}. Trưởng nữ chính là chỉ người tu luyện còn kém một chút, nhưng vẫn thuộc bộ phận ‘thượng sỹ’ mà Lão Tử giảng, đều là người tu luyện cả mà! Tuy nhiên tu luyện có chút tỳ vết, Âm chính là đại biểu tỳ vết, có chút bất thuần. Những người này tương lai cũng là có quả vị. Vậy thì quả vị của họ ở tại đâu? Quả vị tương lai của họ so với Trời là bằng nhau (cao bằng quẻ Càn (☰)). Cũng là điều gọi là ‘thọ đồng với Trời’, cao bằng với Trời, sánh ngang với Trời, thế nhưng vẫn là có thọ, không thể trở thành vĩnh viễn được. Có một chút nuối tiếc. Ở đây cần thuyết minh một điểm, rằng đây chỉ là lý giải của cá nhân tôi.
Tiếp nữa là điều mà Lão Tử gọi là ‘trung sỹ’. Trung sỹ bao gồm trung nam và trung nữ. Lúc này chúng ta mới phát hiện thấy ý nghĩa chân chính của việc chúng ta đổi chỗ hai quẻ Ly, Khảm khi đưa ra “Vị lai Bát quái phương vị”. Sau khi điều quái, chúng ta phát hiện ra rằng chiểu theo sắp xếp quả vị thì đọc ra là phi thường thuận, ví dụ trưởng nam, trưởng nữ, trung nam, trung nữ, thiếu nam, thiếu nữ; thế nhưng trước khi điều quái là trưởng nam, trưởng nữ, trung nữ, trung nam, thiếu nam, thiếu nữ. Đây cũng là một phương diện nghiệm chứng việc chúng ta đổi chỗ trung nam, trung nữ là chính xác.
Như vậy trung nam, trung nữ thay nhau đại biểu điều gì? Trung nam, trung nữ đều là trung sỹ, trong tương lai cần phải lưu lại không gian nhân loại. Bởi vì họ không hề tu luyện, nên cũng không có quả vị cao hơn “nhân thế trục”. Chúng ta biết rằng, giới tu luyện giảng người thuộc sinh mệnh tính Dương trên thế gian, còn động vật, thực vật đều thuộc sinh mệnh tính Âm trên thế gian; do đó người ta không được tùy tiện thu khí, nếu không cả thân người đầy Âm khí. Như vậy trung nam, trung nữ trên “nhân thế trục” có ý nghĩa gì? Trung nam {quẻ Khảm (☵)} đại biểu những người có thể lưu lại không gian nhân loại trong tương lai. Vậy còn trung nữ? Trung nữ {quẻ Ly (☲)} chính là những người chuyển sinh thành động vật hoặc thực vật tại nhân gian trong tương lai. Đương nhiên có người không tin điều này, nhưng Phật gia giảng lục đạo luân hồi chính là như vậy.
Tiếp theo chính là “hạ sỹ”, kết cục của họ như thế nào? Thiếu nam {quẻ Cấn (☶)} chính là những người xấu, nhưng còn chưa tới mức ‘thập ác bất xá’, kết cục của họ so với Đất {quẻ Khôn (☷)} là tương đương. Đất ở đây không phải là ‘đất’ trên Địa cầu, mà là ‘đất’ thấp hơn không gian nhân loại, cũng chính là Địa ngục. Trời mà ở trên chúng ta nói đối ứng với trưởng nữ, cũng không phải ‘trời’ ở không gian nhân loại, mà là Thiên đường. Cũng là nói rằng, Thiên Địa trong “Vị lai Bát quái” không phải ở không gian nhân loại, không nằm trong không gian phân tử của nhân loại, mà là Thiên Địa trong ý nghĩa trở về với vũ trụ, là siêu việt không gian nhân loại, là mang ý nghĩa tiên thiên, thuộc ý nghĩa của “Tiên thiên Bát quái”. Bởi vì chúng ta biết rằng, toàn bộ xã hội nhân loại, bao gồm Thiên Địa ở nhân gian, kỳ thực đều nằm trong ý nghĩa của “Hậu thiên Bát quái”.
Cũng là nói rằng, thiếu nam phải hạ xuống Địa ngục, nhưng bất kể thời hạn thụ hình ở Địa ngục lâu đến đâu, cuối cùng vẫn có ngày phóng thích sau khi mãn hạn. Cũng giống trưởng nữ mà chúng ta nói ở trên, thọ đồng với Trời, thọ mệnh rất lâu dài nhưng vẫn là có thọ.
Tiếp theo là thiếu nữ {quẻ Đoài (☱)}, cũng chính là tương đương với tù chung thân hoặc án tử hình ở nhân loại, là kết cục của những người xấu nhất. Chúng ta biết rằng, trong “Hậu thiên Bát quái” của Văn Vương, thiếu nữ thuộc người cực Âm, là địa vị thấp kém nhất trong toàn xã hội. Nhưng trong “Vị lai Bát quái”, thiếu nữ đại biểu cho những người tà ác nhất, bại hoại nhất; kết cục của họ là bị đả nhập Địa ngục ở không gian còn thấp hơn nhân loại, cũng chính là cực Âm của vũ trụ. Đây là một loại kết cục tận diệt mãi mãi, không có ngày thoát ra được, mãi mãi vùi thân, là một loại kết cục đáng sợ nhất.
Trên đây là một số thông tin tối quan trọng mà tôi rút ra được từ “Vị lai Bát quái”. Tổng kết lại, thì “Vị lai Bát quái” thể hiện cho chúng ta một loại cảnh tượng “vạn vật quy vị” và “nhân Thần quy vị”. Tầng ý nghĩa thứ nhất, chính là cảnh tượng “vạn vật quy vị” trong vũ trụ; đây là kỳ vọng ban đầu của tôi, và cũng là điều tôi thực sự nhìn thấy được. Tầng ý nghĩa thứ hai, chính là cảnh tượng “nhân Thần quy vị” trên thế gian; đây là điều nằm ngoài dự liệu ban đầu của tôi, là điều khiến tôi kinh ngạc nhất, và cũng là nguyên nhân căn bản khiến tôi viết ra loạt bài này. Bởi vì kết quả khiến người ta rất chấn động. Ít nhất là tôi cho như vậy, do vậy suốt cả ngày hôm ấy tôi không thể đợi thêm được nữa.
(Hết)
Dịch từ:
http://www.zhengjian.org/zj/book/html/8gua/b012.htm






Thứ Năm, 5 tháng 1, 2012


Vương
Tác giả: Vương Tĩnh Văn

[Chanhkien.org] Để truy tìm chân lý Phật Pháp, bà đã chịu muôn thứ khổ; để tu luyện hoàn nghiệp, bà đã lưu lại truyền kỳ, nhiều phen thập tử nhất sinh, tựa như tái hiện Phật Milarepa thuở xưa. Hoa Ưu Đàm Bà La ghi lại trong kinh Phật đã khai nở, chính là lúc Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân; câu chuyện của Thích Chứng Thông thật đáng để chúng ta suy ngẫm.
Câu chuyện này bắt đầu từ một tai nạn xe hơi tại Cao Hùng, Đài Loan vào tháng 6 năm 2002.
Hôm ấy trên phố người đi lại đông đúc, một chiếc xe gắn máy màu tím đang chạy trên đường, thì đột nhiên một chiếc xe hơi màu xám từ bên trái cấp tốc quẹo phải, trong chớp mắt đã đụng vào chiếc xe gắn máy, cả chiếc xe hơi đè lên người lái xe gắn máy. Khi ấy hai tiểu thư trên xe sợ quá: đây chẳng phải cán chết người hay sao? Hai người lập tức xuống xe, chỉ thấy một nữ tăng nhân tầm 40, 50 tuổi đang gắng sức ngọ nguậy để đứng dậy.
Hai cô gái sợ quá, một cô hỏi: “Thưa bà, bà không sao chứ?” Không thấy đối phương đáp lại. Chỉ thấy tăng nhân hai mắt nhắm chặt, mỗi cử động đều khiến toàn thân run rẩy. Một lúc lâu sau, bà mới mở mắt ra, gắng sức dùng tay ra hiệu một cách điềm tĩnh, có ý bảo đẩy giùm xe gắn máy lại. Sau đó, một cách rất khó khăn, bà lấy ra hai tờ truyền đơn từ ba lô đưa cho hai cô gái, đồng thời ra hiệu cho họ đi. Hai vị cô nương rất mừng vì tự mình đã chứng kiến kỳ tích, gặp được một ni cô câm mà hảo tâm. Đợi hai cô đi rồi, người ta mới thấy nữ tăng nhân cật lực bò lên xe gắn máy, chầm chậm lái đi.
Vị nữ tăng nhân này chính là pháp sư Thích Chứng Thông, năm nay gần 70 tuổi. Những ai hiểu được bà đều không khỏi cảm thán trước truyền kỳ về trải nghiệm thập tử nhất sinh của bà; để truy tìm chân lý Phật Pháp, bà đã chịu muôn vàn thứ khổ; có người đem trải nghiệm của bà ví như tái hiện cố sự Phật Milarepa năm xưa.
Vâng mệnh cha kết hôn, sinh con vẫn không giảm nguyện vong xuất gia

Thích Chứng Thông sinh ra tại một thôn làng nhỏ nghèo khó tại xã Lý Cảng, huyện Bình Đông, thuộc miền Nam Đài Loan. Bà từ nhỏ đã không thích chốn náo nhiệt, sau khi tan học thường đến một ngôi chùa ở gần đó, lặng lẽ ngồi tọa dưới gốc cây. Các nhà sư trong chùa hỏi bà có muốn xuất gia không, bà thành thực gật đầu. Năm hơn bốn tuổi, một hộ trong thôn làm đám cưới con, người cả thôn đều đi uống rượu cưới, bà hỏi nhỏ phụ thân: “Vì sao phải kết hôn vậy cha? Con lớn lên sẽ không như người này đâu”.
Vì bà bẩm sinh tính vừa lanh lợi vừa giản dị, nên từ năm 15 tuổi đã bắt đầu có người đến xin kết thông gia không ngớt, nhưng đều bị bà cự tuyệt. Tuy nhiên năm 21 tuổi, anh trai thầy giáo bà và phụ thân bà đi xa buôn bán cùng nhau, khi trở về đã định chuyện cưới xin, do vậy bà xuất giá.
Nháy mắt đã hai chục năm trôi qua, bà kinh doanh một công ty gia đình xuất khẩu thương mại. Bất chấp sự nghiệp phát đạt, được chồng quan tâm, hai trai một gái hiếu thuận, tất cả dường như không đem lại hạnh phúc thật sự cho bà. Bà thường khóc một mình, nước mắt đẫm hai má. Sau khi sắp xếp xử lý công việc bận rộn, bà đều ngồi xếp bằng trên ghế dựa, cung kính lấy ra kinh thư cất trong ngăn kéo rồi nghiêm túc đọc. Cảm thấy đời người ngắn ngủi, vạn sự vô thường, nguyện vọng xuất gia của bà càng ngày càng mạnh mẽ.
Nhất tâm hướng Phật đợi cơ duyên, cuối cùng cạo đầu đi tu
Hồi ấy Thích Chứng Thông mỗi ngày đều đả tọa vào sáng sớm, có thể nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng. Thực ra bà từ bé đã khai mở thiên mục, có thể nhìn thấy rất nhiều cảnh tượng kỳ dị, chỉ là bà cho rằng ai ai cũng đều nhìn thấy như thế nên không đi nói với ai. Thời thơ ấu bà nhìn thấy vạn sự vạn vật đều đang sống, mỗi lần qua cầu, bà đều nói với cây cầu: “Xin lỗi, phiền cho ta qua nhé”. Nhìn thấy hoa cỏ cây cối, bà đều chào và hỏi thăm.
Có một lần vào buổi sớm một hôm nọ, bà ngồi đả tọa tại công ty và nhìn thấy đủ loại cá xếp thành hàng ngũ đang bơi qua, miệng đều ngoảnh về phía bà như đang kể lại điều gì. Bà thấy rất kỳ quái, mới hỏi một đồng nghiệp thích câu cá trong công ty: “Hôm qua anh đi đâu?” Người kia nghe xong đáp ngay: “Á! Chị biết rồi à! Không phải tôi làm đâu, tôi chỉ là chạy xe chở họ đi bắt cá thôi; họ dùng điện, đem bắt tất cả cá lên”. Bà nghe xong hai hàng nước mắt chảy dài.
Vừa mới học lái xe, một lần bà đột nhiên nhìn thấy xe huấn luyện viên biến thành rộng rãi phi thường, xuất hiện một cảnh tượng Phật quốc thù thắng trang nghiêm. Nguyên là trên xe huấn luyện viên mới treo một tấm bùa hình Phật khoảng hai tấc. Còn có một lần, bà từ phòng làm việc công ty đi tới nhà xưởng, đột nhiên nghe thấy “bang” một tiếng, chỉ thấy trên không trung nở ra một đóa hoa sen rất lớn. Bà thực sự cảm thấy tồn tại chân thật của thế giới Phật quốc, kinh Phật nói chẳng sai.
Sống giữa dòng thế tục thấm đẫm danh lợi tình, bà cảm thấy như bị giày vò ngày qua ngày. Khi ấy bà đã thụ “Bồ Tát giới tại gia”, đây đã là giới luật tối cao của cư sĩ không xuất gia, sau nữa là phải tu xuất gia.
Khi ở bên các con, bà thường kể chuyện Phật giáo cho chúng nghe, lại nói với chúng rằng một ngày nào đó mẹ của chúng sẽ ly khai thế tục, xuất gia tu hành. Bà nhất tâm hướng Phật, đến năm hơn 40 tuổi, cơ duyên cuối cùng đã chín muồi, người nhà của bà không nhẫn tâm lại để bà tiếp tục chịu giày vò nữa, đều đồng ý để bà xuất gia. Sau 40 năm chờ đợi đằng đẵng trong khổ sở, bà đã hoàn thành nhân duyên thế tục; bà cạo đầu trở thành một vị ni cô, pháp hiệu Thích Chứng Thông.
Làm trụ trì xây tinh xá, hành hương sang Tây Tạng suýt mất mạng
Đài Loan bảo lưu truyền thống văn hóa kính Thần của Trung Hoa, bởi vậy người ta đều tôn kính phi thường với người xuất gia, và các cư sĩ cũng cực lực cung dưỡng tăng nhân. Xuất gia không lâu, Thích Chứng Thông đã trở thành trụ trì của ngôi chùa. Sau đó dưới sự khẩn cầu của cư sĩ, bà xây dựng một miếu thờ (tinh xá) trên núi hoang.
“Khai phá núi rất khổ cực, làm cỏ san đất, tất cả đều tự mình làm. Một ngày tôi một mình làm đến nửa đêm, đột nhiên một con rắn độc, loại bách bộ xà bò tới, dừng trước mặt tôi. Tôi bảo nó quy y theo Phật, để nó đi thật xa, không được hại người, cũng không bị người làm hại. Nó nghe xong thuận theo gác thang mà bò đi”. Cũng như vậy, để khiến thật nhiều người hữu duyên tiếp xúc Phật Pháp, pháp sư Thích Chứng Thông trước sau đã xây ba tinh xá tại ba chỗ trên ngọn núi hoang.
Để tìm kiếm chân lý nhân sinh, khi đảm nhiệm chức trụ trì, Thích Chứng Thông còn nhiều lần thăm viếng danh sơn thắng địa để truy tìm dấu vết của Đại Giác Giả. Bà đã từng qua Tây Tạng, Himalaya, Trường Giang, thượng nguồn Hoàng Hà, núi Côn Lôn, Nepal và Ấn Độ.
Hành hương là rất khổ sở. Đường đi đều là nơi hoang dã, hoang mạc hoặc bãi sông, khi ăn cơm chỉ có thể đào một cái hố trên mặt đất để đun nước, sinh hoạt gian khổ phi thường. Khi đến Tây Tạng, do không khí loãng, Thích Chứng Thông bắt đầu xuất hiện phản ứng cao nguyên, cộng thêm gánh nặng chịu thống khổ cho một vị nữ cư sĩ đi cùng, kết quả tâm tạng chịu không nổi, suýt nữa mất mạng.
Tâm không thoái thác, cầm bát vân du, khổ tìm đường trở về
Tuy nhiên sau khi tiêu tốn rất nhiều tiền bạc và nỗ lực, Thích Chứng Thông vẫn không thu hoạch được gì mấy sau nhiều chuyến hành hương, “trong tâm không có cảm giác chắc chắn, đối với tu luyện lên tầng thứ cao như thế nào vẫn y nguyên không minh bạch. Đặc biệt là nhiều người bám theo tôi, khiến tôi cảm thấy rất hoảng hốt. Ngay cả tôi cũng không biết viên mãn như thế nào, thì làm sao giúp được họ đây?”
Để có trách nhiệm với người ta, Thích Chứng Thông kiên quyết ly khai đạo trường truyền thống, lựa chọn “chân trần cầm bát vân du”, phương thức truy tìm Phật Pháp thuần khiết nhất và cũng là khổ nhất của thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni. Chính như bà viết trong một bài thơ: “Một bát cơm nghìn nhà, Cô tăng vạn lý du, Chỉ để thoát sinh tử, Hóa độ khắp xuân thu”.
Cầm bát vân du là phi thường gian nan. Ly khai tinh xá, một chút nguồn sinh hoạt cũng không có, quần áo, lương thực, nơi ở, thảy đều không có, hỏi sống làm sao đây? Đặc biệt trong xã hội hiện đại không có tôn trọng đối với tăng nhân như thời đại Phật Thích Ca Mâu Ni, để từ nhà người ta xin một chút cơm ăn, phải chịu các loại nhạo báng, nhục mạ, vũ nhục và bất lý giải, “đến đâu cũng thấy mỗi người một vẻ, có một nụ cười thiện tâm đối với tôi là một niềm cổ vũ lớn lao”. Tuy nhiên hết thảy đều không ngăn được niềm tin hướng về chân lý Phật Pháp của Thích Chứng Thông.
Mỗi ngày Thích Chứng Thông đều mang theo một cái ô, hành lý, túi ngủ, v.v. chân trần bước đi, liên tục không ngừng. Hai chân rất nhanh cọ sát đến mọc bóng nước, gan bàn chân tróc da, chảy cả máu, nhưng bà vẫn tiếp tục đi. “Khi bước đi trên đường nhựa rất bỏng, dẫm nhầm hòn đá trên đường, chân đau buốt đến tận tim. Tôi từng ngủ cạnh ngôi mộ, ngủ ngoài trời dưới gốc cây, ma nạn mà thân tâm phải chịu đựng là không cách nào biểu đạt. Tôi chỉ mong tìm được một con đường phản bổn quy chân, tìm được một vị sư phụ chân chính dẫn tôi trở về nhà”.
Thích Chứng Thông vô cùng khiêm tốn nội tâm, bà không nguyện ý nói ra nỗi khổ mà mình phải chịu, rất nhiều người ngoài coi là sự việc kinh thiên động địa, nhưng đối với bà đó chỉ là một hai câu ngắn ngủi mà bà kể lại mà thôi.
Thân tâm bên bờ tuyệt vọng, may gặp được Đại Pháp
Tuy nhiên vân du cũng không thể khiến Thích Chứng Thông đã hơn 50 tuổi tìm thấy chân Pháp chân Đạo, trái lại thân thể với bao bệnh tật thời niên thiếu, lại chịu bao đau khổ dằn vặt khi vân du khắp trong và ngoài nước, kết quả bách bệnh triền thân. “Phàm là những bệnh mà bệnh viện có thể kể tên ra, thì tôi đều có gần hết, đặc biệt là bệnh tim, bệnh dạ dày, bệnh thận, đau nhức kinh lạc, vẹo lệch sống eo, trật khớp cột sống, v.v. có rất nhiều”.
Các bệnh trên thân thể, cộng thêm tâm bệnh tìm không thấy chân lý, trong ngoài đều khốn đốn, khiến Thích Chứng Thông gần như tuyệt vọng, đặc biệt là sau năm 1992. “Trước kia tôi xem kinh thư, thấy đằng sau đều có nội hàm. Tôi có thể nhìn thấy chư Phật Bồ Tát, các chủng cảnh tượng thiên đường; tuy nhiên từ sau năm 1992, chúng đều biến mất. Điều này khiến tôi cảm thấy rất kỳ quái, cũng rất tuyệt vọng. Kinh Phật là dùng để độ nhân, nhưng hiện tại Pháp thân của Phật đã ly khai nhân gian rồi, rốt cuộc đã phát sinh sự việc gì?”
Mãi tới một ngày đầu năm 1998, một vị bác sĩ y thuật cao minh tặng bà một bản «Chuyển Pháp Luân». “Tuy khi ấy tôi còn chưa biết đây là cuốn sách gì, nhưng trước khi mở, hai tay tôi giương cuốn sách lên quá đỉnh đầu, rồi mới mở ra. Vừa nhìn thấy ảnh Sư phụ, nước mắt tôi bỗng chốc tuôn rơi, không biết là vì sao. Tôi hình như đã sáng tỏ thân phận, lai lịch của Sư phụ; tôi biết tôi cuối cùng đã tìm thấy Sư phụ chân chính rồi. Khi ấy nước mắt tôi cũng như những hột trân châu, nhỏ xuống từng giọt”.

“Đoạn thời gian ấy nước mắt tôi tựa hồ không ngừng tuôn rơi. Khi tôi nhìn thấy lần đầu học viên luyện công đả thủ ấn, nước mắt tôi chỉ là không ngừng nhỏ xuống, cảm giác phi thường thân thiết. Lần đầu tiên luyện công, tôi đã nghe thấy huyệt dũng tuyền ở hai chân tách mở ‘păng’ một cái, tôi thực sự thể nghiệm được cảm giác ‘trăm mạch đồng thời vận chuyển’. Toàn bộ cơ thể tôi rất nhanh ở trong trạng thái thoát thai hoán cốt, các loại bệnh đều tiêu mất sạch”.
Thích Chứng Thông kể, khi ấy bà mới minh bạch, Sư phụ Lý Hồng Chí là đang chân chính cứu người. Thảo nào hồi năm 1992 xem kinh thư Phật giáo, phát hiện thấy không có nội hàm nào đằng sau, bởi vì Sư phụ đã bắt đầu truyền Đại Pháp rồi, chúng Thần đều rời đi rồi.
“Sư phụ dùng toàn ngôn ngữ thiển bạch nhất của nhân loại, mà đem đạo lý cao thâm ra giảng xuất lai. Ví như nói, trong Phật giáo có các chủng giải thích đối với Phật, nhưng Sư phụ giảng: Người tu luyện giác ngộ rồi được gọi là ‘Phật’, chỉ một câu mà đã bao hàm nội dung hàng vạn quyển kinh thư. Lại ví như tu luyện rốt cuộc là gì, Sư phụ giảng, tu luyện chính là quá trình không ngừng tống khứ tâm chấp trước của con người; đây đều là đạo lý mà chúng tôi tu Phật mấy chục năm qua vẫn chưa minh bạch, Sư phụ chỉ một câu đã chỉ rõ ra rồi”.
Đại Pháp tựa như chiếc xe tốc hành, khiến con người viên mãn nhanh nhất
“Tháng 8 năm 1998, tôi may mắn được gặp Sư phụ sau Pháp hội Singapore, khi ấy tôi hỏi Sư tôn: ‘Con trước đây đã là đệ tử của Phật, hiện nay vẫn là đệ tử của Phật, xin hỏi con có thích hợp tham gia hoạt động Đại Pháp hay không?’ Sư tôn sau khi khai thị một đoạn Pháp lý, nói có thể tu”.

Từ đó, Thích Chứng Thông đem toàn thân tâm đặt vào tu luyện Pháp Luân Đại Pháp, lại nghĩ đem lịch trình muôn vàn khổ sở tìm kiếm chân lý của mình cho nhiều người hơn nữa biết. Bà trước tiên tìm những người xuất gia và cư sĩ mà bà biết trước đây, thế nhưng trong số họ không ít người không thể lý giải. Có người nói bà phản bội sư môn, có người phản đối bà mặc y phục người xuất gia để đi hồng truyền Pháp Luân Công, thậm chí có người nửa đêm gọi điện thoại quấy nhiễu bà.
Thích Chứng Thông lúc này mới minh bạch, vì sao lần đầu tiên gặp được Sư phụ, trong tâm bà vang lên câu: “Chư vị đang hô khẩu hiệu, luôn miệng nói phải tu luyện, nhưng thực sự khi đến lúc, chư vị lại không đến đắc chân Pháp”. Tuy nhiên bà cũng không vì vậy mà chán nản, bởi vì có rất nhiều người hữu duyên đang đợi ngoài chùa chiền. Thế là bà đến đâu cũng giới thiệu Pháp Luân Công với người ta, dạy người luyện công học Pháp, giúp thành lập điểm luyện công mới.
Một lần tại lớp dạy Pháp Luân Công cho các giáo viên Đài Loan, bà giới thiệu với các giáo viên ở dưới bục: “Tôi nguyên là tu luyện Phật giáo, nhưng tôi đến muộn rồi; tôi không bắt kịp truyền pháp của Phật Thích Ca Mâu Ni, chỉ bắt kịp thời kỳ mạt pháp. Nhưng tôi rất có may mắn, lỡ mất dịp này, nhưng lại gắng sức lên được chiếc xe tốc hành; tuy rằng cất bước chậm, nhưng tôi đã đạt mục đích, Pháp Luân Công tựa như chiếc xe tốc hành ấy, có thể khiến con người viên mãn mau lẹ nhất”.

Về không ít người trước đây từng học qua pháp môn khác mà nay không dám luyện Pháp Luân Công vì sợ sư phụ cũ không vui, Thích Chứng Thông nói: “Cũng giống như chúng ta đi học, từ tiểu học, trung học cơ sở, trung học phổ thông, đại học, nghiên cứu sinh, đến tiến sĩ, thầy giáo trước đây của chúng ta không chỉ vì chúng ta nhận thầy giáo khác mà không cao hứng, chỉ cần chúng ta đề cao lên, thì sư phụ trước đây của chúng ta càng cao hứng”.
Nhẫn chịu trọng thương tông xe, luyện công hồng Pháp giảng chân tướng
Trong khi giúp nhiều người hơn nữa liễu giải Pháp Luân Công, Thích Chứng Thông trước sau bị 5 lần xe hơi đâm rất nghiêm trọng, đúng là thập tử nhất sinh. Sáng sớm một ngày năm 1999, trời còn chưa sáng, bà đã lái xe máy tham gia điểm luyện công buổi sáng sớm và bị một kẻ say rượu đâm trúng. Lúc ấy xương cánh tay trái của bà bị đâm gẫy, mạch máu bị vỡ, toàn bộ cánh tay biến thành tím đen, lại sưng phù lên.
Khi kẻ say rượu tỉnh lại, anh ta hét lên: “Thật xin lỗi, để tôi đưa bà đi bệnh viện nhé, nếu không chị gái tôi mắng chết tôi”. Nhưng Thích Chứng Thông từ từ bò dậy khỏi mặt đất, nói mình không hề gì và để anh ta đi. Bà leo lên xe gắn máy đến điểm luyện công, nhưng không nói với ai về sự việc tông xe, mà nhẫn nhịu đau đớn do gãy xương và luyện công cùng đám đông. Sau khi đồng tu phát hiện ra, họ vô cùng kính phục lực nhẫn nại của bà.
Hơn một tháng sau, trong tình huống không có trị liệu nào, đoạn xương gẫy của bà đã liền lại, so với trị liệu của bệnh viện còn nhanh hơn. Sau đó một người trong giới y học hiểu biết sự việc nói: “Theo phân tích hiện trường, xương sườn của bà khẳng định đã bị đâm gẫy, không tin cứ hỏi bà”. Thích Chứng Thông cười, nói: “Đúng vậy, gẫy rồi, người ta không nhìn thấy, tôi cũng không nói nữa”.
Cũng như vậy, bằng nghị lực siêu thường, Thích Chứng Thông đã vượt qua mấy ma nạn nữa, và trong mắt bà, những tai nạn đụng xe này đều là hoàn trả nghiệp lực còn thiếu trong quá khứ, chịu khổ có thể tiêu nghiệp. Có một lần đụng xe, ngón tay ở tay phải của bà bị đâm quẹo ngược ra đằng sau, nhưng bà nhẫn chịu đau đớn, tự mình bẻ ngón tay quặt trở lại. Tuy nhiên do dây chằng bị kéo đứt, tới hiện tại ngón tay bà có lúc vẫn còn đau.
Trở lại sự kiện Thích Chứng Thông bị xe hơi chèn lên toàn thân như cối xay. Kỳ thực khi ấy bà bị nội thương nghiêm trọng, phần thân trên, tim và phổi đều đau buốt. “Lúc ấy trong tâm tôi chỉ nghĩ tới một sự việc, tôi phải đuổi kịp tàu hỏa và tham gia hội đọc sách, các ý niệm khác đều không có nữa”. Lúc bấy giờ bà đau đến mức không mở mắt ra được, nói không ra lời, người khác lại cho rằng bà bị câm. Hôm ấy bà nhẫn chịu đau đớn để bắt kịp xe lửa, ngồi trên xe lửa ba tiếng đồng hồ, đến miền Trung tham gia học Pháp tập thể cứ cách một ngày. Tối hôm đó xách hành lý lên lầu, đau đến mức ngủ không nổi, cũng không còn sức lực để mà nằm xuống nữa.
Đau đớn dữ dội, mỗi phút mỗi giây đều như vậy, nhưng không để người khác biết. Sáu ngày sau, bà nhẫn chịu đau đớn đi sang Nga là nơi thủ lĩnh Đảng Cộng sản Trung Quốc Giang Trạch Dân viếng thăm, cùng cộng đồng học viên Pháp Luân Công kêu gọi chấm dứt bức hại. Trong bốn ngày bốn đêm, bà liên tục lấy từ bi hồng đại và phát xuất ý niệm cường đại với hy vọng quy chính bầu không khí chính-tà. Sau đó, bà cùng đồng tu tới Iceland và đả tọa phát chính niệm trên một sườn núi nhỏ; mỗi tế bào của Thích Chứng Thông đều vật lộn trong đau đớn, thế nhưng bà vẫn kiên trì giữ vững.
Buổi tối trước khi trở về Đài Loan, Thích Chứng Thông cảm thấy bản thân đang ở trong trạng thái hấp hối. Bà tĩnh tĩnh ngồi dậy đả tọa, vừa nhẫn chịu vừa nghe tiếng các bạn cùng phòng thảo luận, cuối cùng rơi vào giấc ngủ. Hôm sau tỉnh dậy, bà cảm thấy mình đã sống lại rồi. Đối với lần khảo nghiệm sinh-tử này, Thích Chứng Thông vẫn đối đãi bình thản như mọi ngày.
Ưu Đàm Bà La hoa khai, Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế độ nhân
Theo kinh Phật ghi lại: Long Hoa tam hội nguyện tương phùng, sau năm mươi ức năm, Phật Di Lặc hạ thế, giảng Pháp tam biến, độ hết tất cả chúng sinh hữu duyên.
Thích Chứng Thông nói: “Ngay từ lần đầu tiên nhìn thấy ảnh Sư tôn, bỗng chốc nước mắt tôi tuôn rơi, không hiểu vì sao, trong nội tâm hình như đã sáng tỏ về thân phận và lai lịch của Sư tôn. Mãi tới hai năm sau, khi tôi lần đầu tiên xem băng hình giảng Pháp của Sư tôn tại Bắc Kinh năm 1996, xem đến đoạn giảng Pháp về Phật Di Lặc chuyển thế, mới minh bạch ra: Sư tôn chính là Chuyển Luân Thánh Vương hạ thế, cũng là Phật Di Lặc tái sinh”. Tới năm 2008, khi Thích Chứng Thông tận mắt nhìn thấy hoa Ưu Đàm Bà La, bà lại càng minh bạch hơn nữa về sự việc này.

Về hoa Ưu Đàm Bà La, quyển 4 kinh «Pháp Hoa Văn Cú» viết: “Ưu Đàm hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện”. Quyển 8 kinh «Huệ Lâm Âm Nghĩa» ghi rõ: “Ưu Đàm hoa, là lược dịch sai từ tiếng Phạn cổ. Đúng Phạn ngữ là Ô Đàm Bạt La, nghĩa là điềm lành linh dị. Đây là Thiên hoa, thế gian không có loại hoa này. Nếu Như Lai giáng sinh, Kim Luân Vương xuất hiện ở thế gian, thì nhờ đại phúc đức của Ngài mà xuất hiện loài hoa này.” «Chuyển Luân Thánh Vương tu hành kinh» cũng nói: “Bấy giờ Chuyển Luân Vương dũng mãnh nói: ‘Kim Luân này đúng là vật báu báo điềm lành của Ta, Ta hiện nay đúng là Chuyển Luân Thánh Vương’”.
Trên thực tế, ngay từ đầu năm 2005, người ta đã phát hiện khoảng chục đóa hoa Ưu Đàm Bà La mọc trên tượng Bồ Tát trong thiền viện Tu Di Sơn ở Hàn Quốc. Sau đó, các nơi trên thế giới liên tục xuất hiện loại hoa mang điềm lành này. Thân hoa Ưu Đàm Bà La mỏng như sợi tơ tằm, sắc hoa trắng như tuyết, xung quanh tỏa ra vầng sáng nhàn nhạt, có bông còn phát xuất hương thơm thoang thoảng. Điều đặc biệt nhất là loài hoa này có thể mọc trên bất kỳ vật dẫn nào, cho dù là tượng đồng, sắt thép, thủy tinh, hay là keo dán, trái cây, thực vật, v.v. Bất kể nóng lạnh thế nào, bất kể nơi chốn nào, đều có thể khai nở.
Hoa Ưu Đàm Bà La được phát hiện mọc trên kính lớp học ở trường tiểu học Dân Hùng Quốc tại Gia Nghĩa, Đài Loan. (Ảnh: Tô Thái An/Đại Kỷ Nguyên)
“Sau này tôi mới minh bạch ra, Phật Tổ nói năm mươi ức năm sau Phật Di Lặc hạ thế, đối ứng với nhân gian chính là ngày hôm nay, bởi vì không gian khác nhau có khái niệm thời gian khác nhau. Trải qua hơn 10 năm tu Đại Pháp, tôi ngày càng kiên tín, Sư tôn là đến phổ độ chúng sinh”. Tại hội trường cuộc thi Piano do Đài truyền hình Tân Đường Nhân tổ chức—ở Đại học Đài Nam, bên ngoài bức tường nhẵn bóng của thính phòng âm nhạc, Thích Chứng Thông đã tận mắt chứng kiến hoa Ưu Đàm Bà La. Điều này khiến bà càng minh bạch rằng Chuyển Luân Thánh Vương đã hạ thế truyền Pháp phổ độ chúng sinh, con người có thể không ly khai thế tục mà tu thành Như Lai.
Hồi tưởng lại hơn 10 năm tu luyện trong Đại Pháp, Thích Chứng Thông cảm thán nói: “Tôi có dùng hết ngôn ngữ của nhân loại cũng không cách nào biểu đạt được cảm ân và tôn kính của mình đối với Sư tôn. Càng tu càng thấy Đại Pháp vô biên, không lời biểu đạt, càng tu càng thấy bản thân còn thua xa yêu cầu của Sư tôn. Vào ngày sinh nhật của Sư tôn 13 tháng 5, tôi xin dùng bài thơ dưới đây để biểu đạt lòng cảm kích của tôi: ‘Khi Phật tại thế ta đắc Pháp, Khi Phật Chính Pháp ta đang tìm, Mừng gặp kiếp này đủ phúc phận, Được thấy chân Phật thân vàng kim’”.
Dịch từ:
http://zhengjian.org/zj/articles/2009/6/26/60247.html
http://www.epochweekly.com/gb/125/6405.htm


1)
Tác giả: Trương Kiệt Liên
20110323-4.jpg
Chùa Labrang ở Cam Túc, Trung Quốc là một trong những ngôi chùa chính của Phật giáo Tây Tạng. Trong chùa Labrang là một tượng đồng mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng của Đại Phật Di Lặc, vị Phật tương lai, ám chỉ Phật Di Lặc rời khỏi ngai mang Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân.
[Chanhkien.org] Trong Kinh Thánh có lời tiên tri rằng, vào thời khắc tối hậu của nhân loại, sau khi người Israel phục quốc, Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới nhân gian. Còn Kinh Phật ở phương Đông nói rằng khi hoa Ưu Đàm Bà La khai nở, Phật Di Lặc tương lai sẽ hạ thế phổ độ chúng sinh. Hiện tại, những sự việc được tiên tri đã lần lượt xuất hiện, Cứu Thế Chủ của cả Đông và Tây phương phải chăng đã tới ngay bên cạnh chúng ta?
Cả Kinh Phật và Kinh Thánh đều đề cập tới nhân loại thời mạt kiếp ắt sẽ có Cứu Thế Chủ giáng thế cứu vãn chúng sinh. Kinh Phật cho rằng thời mạt pháp sẽ có vị Phật tương lai là Di Lặc hạ thế cứu độ chúng sinh, còn Kinh Thánh tin rằng khi thời mạt kiếp tới, tất sẽ có Cứu Thế Chủ Messiah giáng thế cứu vãn chúng sinh. Nếu như Kinh Phật và Kinh Thánh là đáng tin cậy, thì như vậy nhân loại nhất định sẽ xuất hiện hai Cứu Thế Chủ, ngoại trừ trường hợp Di Lặc trong Kinh Phật chính là Messiah trong Kinh Thánh.
Phật Di Lặc và Messiah là cùng một người?
Cố học giả của nền giáo dục Trung Quốc, nhà Phật học, nhà phiên dịch Quý Tiện Lâm và các đồ đệ của ông đã có một cống hiến quan trọng, đó là phát hiện mối liên hệ giữa Phật gia và Cơ Đốc giáo, ấy chính là “Vị lai Phật Di Lặc của Phật gia và Cứu Thế Chủ Messiah của Cơ Đốc giáo là cùng một người”.
Theo nghiên cứu của Đại học Phục Đán Thượng Hải, vào khoảng năm 1.000 TCN, trong một vùng rộng lớn bao gồm Tây Á, Bắc Phi, Tiểu Á, lưu vực Lưỡng Hà và Ai Cập, có một thứ tín ngưỡng thịnh hành về Cứu Thế Chủ của tương lai, và Messiah trong Đạo của Chúa Jesus chính là một loại tín ngưỡng có tính đại biểu nhất. Thực ra loại tín ngưỡng này đã có mặt ngay trong kinh Cựu Ước. Tín ngưỡng Di Lặc của Ấn Độ, theo xác nhận của giới học thuật, là có tương quan mật thiết với tín ngưỡng Cứu Thế Chủ trên phạm vi toàn thế giới; do vậy xét về ảnh hưởng, tín ngưỡng Di Lặc của Ấn Độ chính là một bộ phận hợp thành của tín ngưỡng Cứu Thế Chủ. Nếu dùng ngôn ngữ đơn giản nhất mà diễn đạt, thì Di Lặc chính là Vị lai Phật, là Cứu Thế Chủ tương lai. Nguồn gốc ở Ấn Độ và phạm vi lưu truyền rộng lớn thời cổ đại của tín ngưỡng này chính là một bộ phận của tín ngưỡng vào Messiah.
Hai chữ “Di Lặc” (弥勒) trong tiếng Hán từ đâu mà đến? Thực ra, điều này liên quan đến một trong những bí mật lớn nhất của văn minh nhân loại lần này.
Theo khảo cứu từ «Quý Tiện Lâm văn tập», quyển thứ 12 “Mai Lợi Da và Di Lặc”, thì đa số nguyên bản Kinh Phật thời kỳ đầu đều là “Hồ bản”, tức dùng văn tự của ngôn ngữ Trung Á và Tân Cương cổ đại để viết, chứ không phải là chữ Phạn quy phạm của Ấn Độ. Do đó, hai chữ “Di Lặc” rất có thể đến từ thứ tiếng Tocharian của Tân Cương, là dịch âm trực tiếp từ chữ “Metrak” hoặc “Maitrak”; chữ này rất có quan hệ với chữ “maitri” (từ bi, từ ái) trong tiếng Phạn, do đó “Di Lặc” dịch ý thì chính là “Từ Thị” (người có lòng từ). Vì vậy, ngay từ thời hậu Hán và Tam Quốc ở Trung Quốc, trong một lượng lớn tư liệu Phật điển dịch tiếng Hán đều xuất hiện đồng thời “Di Lặc” và “Từ Thị” (Bồ Tát).
Nếu quả thực như vậy, khái niệm Di Lặc xét về thời gian và bề rộng thì vượt khỏi phạm trù Phật giáo. Tại Trung Quốc, tín ngưỡng sớm nhất của dân chúng không phải là Quan Thế Âm Bồ Tát, cũng không phải là A Di Đà Phật, mà là Di Lặc Bồ Tát. Người ta phát hiện rằng, tín ngưỡng Di Lặc ngay từ đầu đã là đúc kết tinh hoa văn hóa của toàn bộ nền văn minh thế giới, chứ không chỉ hạn cuộc trong Phật giáo, ngoại trừ khái niệm về Bồ Tát ảnh hưởng sâu rộng đến văn hóa nhân loại.
Di Lặc, trong tiếng Sanskrit gọi là “Maitreya”, tiếng Pali gọi là “Metteya”, và gần như không có quan hệ gì về phát âm với hai chữ “Di Lặc” trong tiếng Hoa. Pháp sư Huyền Trang của Đại Đường trong khi phiên dịch đã phát hiện thấy điểm này, bởi vậy Huyền Trang mới nói là dịch sai, và lẽ ra nên phiên dịch thành “Mai Lợi Da”. Tuy nhiên người ta không tiếp thụ ý kiến của vị cao tăng đáng kính Huyền Trang, lại còn cố định gọi thành “Di Lặc”, và “Mai Lợi Da” đã trở thành phát minh cá nhân của pháp sư Huyền Trang.
Vị Thần mà người Tây phương chờ đợi gọi là “Messiah” trong tiếng Anh, tiếng Hán phiên thành “Di Trại Á”, và bắt nguồn từ chữ “Masiah” trong tiếng Hebrew (có lúc viết thành “Mashiach”). Tiếng Hy Lạp phiên dịch thành “Christos”, bởi vậy mới có chữ “Christ” (Cơ Đốc). “Messiah” và “Christ” về cơ bản là có nghĩa tương đương, và Tân Ước coi Chúa Cứu Thế tương đồng với Messiah của Do Thái giáo.
Hai chữ “Maitreya” và “Masiah” có âm rất gần. Trên thực tế, “Di Lặc” nguyên từ tiếng Tocharian của Tân Cương và “Messiah” nguyên từ tiếng Hebrew của Israel là một từ đồng nhất, chẳng qua ở Tây phương đọc là “Messiah”, ở Ấn Độ đọc là “Maitreya”, còn ở Trung Quốc đọc là “Di Lặc”. Tình huống ngôn ngữ này cũng rất hay gặp trong lịch sử văn minh nhân loại.
20110323-4_1.jpg
Chùa Labrang ở Cam Túc là một trong những ngôi chùa chính của Phật giáo Tây Tạng. Trong chùa Labrang là một tượng đồng mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng của Đại Phật Di Lặc, vị Phật tương lai, ám chỉ Phật Di Lặc rời khỏi ngai mang Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân.
Tạo hình tượng Phật trong chùa Labrang ở Cam Túc ẩn chứa huyền cơ
Theo Kinh Phật ghi lại, Di Lặc là Phật hiệu của “vạn vương chi Vương” khi hạ xuống từ tầng tối cao vào thời mạt thế, còn Pháp Luân Thánh Vương là Pháp hiệu của “vạn vương chi Vương” khi hạ xuống Pháp giới (nhân gian gọi là Chuyển Luân Thánh Vương), do đó Phật Thích Ca Mâu Ni mới nói với các đệ tử của Ngài rằng: Pháp Luân Thánh Vương cũng được gọi là Di Lặc.
Từ bi, chói sáng, hy vọng là nội hàm tinh thần của Phật Di Lặc tương lai. Trong chùa Labrang (Lạp Bặc Lăng) thuộc huyện Hạ Hà, châu tự trị dân tộc Tạng ở miền nam Cam Túc, Trung Quốc có một vài bức tượng tiết lộ huyền cơ về Phật Di Lặc hạ thế độ nhân.
Chùa Labrang được xây vào những năm Khang Hy của triều Thanh (năm 1709), là một trong lục đại tông chủ của Cách Lỗ phái (Hoàng giáo) trong Phật giáo Tây Tạng. Nguyên tên của chùa Lạp Bặc Lăng rất dài, gọi tắt là chùa Trát Tây Kỳ, ý tiếng Hán là “chùa Cát Tường”.
Bởi vì đời thứ nhất và đời thứ hai chủ xây chùa này đều là các Phật sống thâm hiểu thiên cơ, nên cách tạo tượng của chùa Labrang cũng ẩn chứa huyền cơ, đặc biệt tạo tượng lưỡng tôn Di Lặc Đại Phật trong chùa có ý vị rất thâm thúy.
Tại hậu điện phía Tây, bên cạnh đại sảnh đường trong tự viện thờ cúng một tượng đồng Đại Phật Di Lặc mạ vàng tư thế nửa ngồi nửa đứng, hai tay Phật đặt trước ngực. Theo lời giải đáp của vị Lạt-ma hướng dẫn khách du lịch khi được hỏi về tư thế tay của Phật thì: “Đây là Di Lặc Phật đang hướng về thế gian chuyển Pháp Luân! Ngài nửa đứng nửa ngồi, ám chỉ Di Lặc Phật sắp đem Pháp Luân tới nhân gian cứu độ thế nhân”. Nghe nói nguyên danh Trát Tây Kỳ của chùa Labrang (ý Cát Tường) chính là có hàm nghĩa Pháp Luân chuyển động hiện Cát Tường.
Ở chính giữa Đại Kim Ngõa Điện thờ cúng Đại Phật Di Lặc là một tượng đồng mạ vàng từ hơn 200 năm trước, do hai đời chủ chùa này đặc biệt mời thợ thủ công từ Nepal đúc thành, tượng Phật cao 10 mét. Ngay bên dưới, phía trước mặt tượng Phật Di Lặc là một pho tượng Phật nhỏ bằng đồng thờ Phật Thích Ca Mâu Ni. Cách bài trí tượng hai vị tôn Phật, một trước một sau, một lớn một nhỏ, một cao một thấp trong cùng một tế đàn này quả thực là hiếm thấy.
Theo giải thích của vị Lạt-ma hướng dẫn khách tham quan thì: “Các bức tiểu Phật ở phía trước là Phật Thích Ca Mâu Ni và đệ tử của Ngài, còn Phật Di Lặc ở đằng sau, tay cầm Pháp Luân. Ngài là vị Như Lai có thần thông tối quảng đại, với năng lực lớn nhất trong vũ trụ; Ngài mang Pháp Luân tới cứu độ chúng sinh trong vũ trụ, tức Ngài là Đấng Cứu Thế duy nhất của chúng sinh toàn vũ trụ”. Không khó để phát hiện, cách tạo tượng đột nhiên hiện rõ Phật Di Lặc (Chuyển Luân Thánh Vương) với tầng thứ cực cao, Pháp lực cực lớn, mang theo từ bi hồng đại tới cứu độ toàn nhân loại. Cũng không phải ngẫu nhiên mà trong ngôi chùa này, điện đường thờ cúng Phật Thích Ca Mâu Ni được gọi là Tiểu Kim Ngõa Điện, còn Di Lặc Phật Điện được gọi là Đại Kim Ngõa Điện.
(còn tiếp)
Dịch từ:
http://news.zhengjian.org/node/6875
Phật Di Lặc và Messiah: Cứu Thế Chủ thời mạt kiếp (Phần 2)
Tác giả: Trương Kiệt Liên
[Chanhkien.org] (Tiếp theo Phần 1)
Thần tại cõi người
Trong Kinh Thánh, cho dù là Tân Ước hay Cựu Ước, đều tiên tri rằng Cứu Thế Chủ Messiah sẽ tới vào thời khắc cuối cùng của nhân loại. Theo truyền thuyết tôn giáo thì trước khi Cứu Thế Chủ Messiah tới nhân gian, một dấu hiệu là người Israel phục quốc, sau đó người ta có thể nhìn thấy Cứu Thế Chủ Messiah.
Sau khi đại chiến thế giới thứ II kết thúc, người Israel sau khi trải qua mấy nghìn năm lưu lạc trên thế giới cuối cùng đã phục quốc. Ngày 13 tháng 5 năm 1948, trong đại hội Do Thái, Jerusalem đã tuyên bố bản tuyên ngôn về “Israel phục quốc”. Tuy xã hội chủ lưu Tây phương là Cơ Đốc giáo, Thiên Chúa giáo, v.v. nhưng Israel là Do Thái giáo, bởi vậy nhằm khống chế Jerusalem (một điều kiện để Thần trở lại), trong hơn nửa thế kỷ qua, xã hội chủ lưu Tây phương đã một mực duy trì giúp đỡ Israel. Về điểm này, họ đã hoàn toàn gác sang một bên sự phân tranh tôn giáo trong lịch sử.
Tại Đông phương cũng có ghi chép về một tín hiệu trọng đại báo hiệu Phật Di Lặc tương lai (Chuyển Luân Thánh Vương) hạ thế. Quyển 8 Kinh Phật «Huệ Lâm Âm Nghĩa» ghi rõ: “Ưu Đàm Bà La hoa là loài hoa linh dị mang điềm lành, tức Thiên hoa, trên thế gian không có. Khi Như Lai hạ thế, Kim Luân Vương xuất hiện ở thế gian, thì nhờ đại phúc đức của Ngài mà xuất hiện loài hoa này”.
20110323-4_2.jpg
Hoa Ưu Đàm Bà La nở rộ tại tiểu bang Maryland ở Mỹ, năm 2011 (Ảnh: John Yu)
Kinh Phật «Vô Lượng Thọ» cũng ghi lại như sau: “Ưu Đàm Bà La hoa là dấu hiệu báo điềm lành”. Còn theo quyển 4 kinh «Pháp Hoa Văn Cú» thì: “Ưu Đàm hoa, có nghĩa là may mắn linh thiêng. Ba nghìn năm mới nở một lần, khi nở là Kim Luân Vương xuất hiện”.
Kể từ năm 1992, tại Hàn Quốc, Nhật Bản, Đài Loan, Thái Lan, Hồng Kông, Malaysia, Singapore, Australia, các tiểu bang nước Mỹ, Canada, các tỉnh Trung Quốc, người ta liên tục phát hiện hoa Ưu Đàm Bà La thánh khiết khai nở. Chúng ta có thể tìm thấy trên mạng và chiêm ngưỡng phong thái cao quý thánh khiết của loài hoa này. Hoa Ưu Đàm không có rễ, không có lá, không có nước, không có đất; có thể mọc trên thủy tinh, sắt thép, tượng Phật, lá cây, hộp giấy và cả băng keo, có hoa mọc hơn 1 năm nhưng vẫn sinh cơ bừng bừng. Từ xưa tới nay chưa gặp bao giờ, nay các nhà thực vật học đã tận mắt chứng kiến. Năm nay (2011), theo Phật ký là năm 3038, hoa Ưu Đàm Bà La đã thịnh khai tại các nơi trên thế giới, thực đúng là thiên thượng ban tặng.
Cách tạo tượng dân gian và dự ngôn hiển rõ thiên cơ
Trong dân gian Trung Quốc bảo lưu một phương thức tạo hình Di Lặc, một pho tượng Phật cười ngạo nghễ, vây quanh có 18 tiểu hài tử, nô đùa muôn hình muôn vẻ, được gọi là “Thập bát tử Di Lặc”. Thế nhưng “Thập bát tử” (十八子) hợp thành một chữ “Lý” (李), tức báo trước Phật Di Lặc hạ thế truyền Pháp độ nhân vào thời mạt kiếp với phàm thân có họ là “Lý”. Truyền thuyết và cách tạo tượng Di Lặc thập bát tử này đã lưu truyền mãi cho đến ngày nay.
Dự ngôn «Cách Am Di Lục» của Hàn Quốc tiên tri: “Hà vi Thánh nhân, Mộc Tử tính thị” (Thánh nhân ở đâu, họ là Mộc Tử; “Mộc Tử” (木子) ghép thành chữ “Lý” (李)), thuộc Thỏ, tháng Tư xuất sinh tại tam bát cấp phía Bắc (vĩ tuyến 38 độ Bắc phân chia Nam-Bắc Triều Tiên), Tam Thần sơn hạ (dưới chân núi Tam Thần sơn, tức Công Chủ Lĩnh dưới chân núi Trường Bạch)… Vị Thánh nhân này là “vương trung chi Vương” (Vua của các vua) trên thiên thượng, tức Pháp Luân Thánh Vương, lần này hạ phàm nhân gian gọi là Di Lặc Phật.
Lưu Bá Ôn cũng từng tiên tri trong dự ngôn «Thôi Bi Đồ» rằng: “Lúc ấy Di Lặc Phật thấu hư đến Nam Hạp Phù Đề thế giới trung thiên tại Trung Quốc Kim Kê mục, phụng Ngọc Thanh thời niên kiếp tận, Long Hoa hội Hổ, Thỏ chi niên đến trung thiên, nhận Mộc Tử vi tính”. Nghĩa là Phật Di Lặc tương lai sẽ chuyển sinh đến “trung thiên Trung Quốc” vào năm Thỏ, cụ thể là giáng sinh tại vị trí “mắt Gà Vàng” (Kim Kê mục) trên bản đồ Trung Quốc (chỉ tỉnh Cát Lâm), lấy “Mộc Tử” (Lý) làm họ.
Ngày 13 tháng 5 năm 1951, tức ngày mùng 8 tháng Tư theo Nông lịch, người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí đản sinh tại thành phố Công Chủ Lĩnh, tỉnh Cát Lâm, Trung Quốc, thuộc Thỏ, ngày này chính là “Lễ Phật đản” trong Phật giáo. Đồng thời ngày này cũng chính là ngày thứ 50 tính từ Lễ Phục Sinh năm 1951, gần như là “Lễ Thánh Linh hàng lâm” trong Cơ Đốc giáo. Tới đây, một số người thông hiểu thiên cơ đã biết được vì sao “Lễ Phục Sinh”, một ngày lễ trọng yếu của tôn giáo Tây phương lại được gọi là “Easter”, tức “người phương Đông”. Đồng thời, cũng hiểu vì sao người ta vẫn duy trì tập tục cổ xưa là Thỏ Phục Sinh (Thánh nhân thuộc Thỏ) và trứng Phục Sinh (có quan hệ với Kim Kê Trung Quốc) để kỷ niệm hoạt động này. Vào Lễ Giáng Sinh ở phương Tây, nhà nào cũng chuẩn bị và trang trí một cây thông Noel (thuộc Mộc), còn ám chỉ Thần ý huyền diệu khiến người ta kinh ngạc hơn nữa.
Nostradamus người Pháp trong tác phẩm «Các Thế Kỷ» đã tiên tri chính xác rất nhiều nhân vật và sự kiện trọng đại phát sinh tại các nơi trên thế giới mấy trăm năm qua, trong đó Các Thế Kỷ II, Khổ 29 đã dự ngôn minh xác về Cứu Thế Chủ cứu độ chúng sinh tại nhân loại vào thời mạt thế.
Các Thế Kỷ II, Khổ 29
Người phương Đông sẽ rời chỗ của Ngài,
Vượt qua dãy núi Apennine để trông thấy nước Pháp:
Ngài sẽ bay vượt qua bầu trời, nước và tuyết,
Đánh thức mọi người bằng cây gậy Thần của Ngài.
Bài thơ này chính là tiên tri người sáng lập Pháp Luân Công, ông Lý Hồng Chí, sau khi kết thúc truyền Pháp tại Trung Quốc Đại Lục sẽ sang Tây phương và truyền Pháp tại rất nhiều quốc gia Tây phương, khiến Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền toàn thế giới. Trong Các Thế Kỷ X, Khổ 75, Nostradamus cũng đề cập đến “Thần Hermes vĩ đại” để hình dung người sáng lập Pháp Luân Công hồng truyền Đại Pháp chính là giảng và truyền Đạo vũ trụ của Thần Phật cho nhân loại. Mà “Thần Hermes vĩ đại” có một cây thần trượng, dùng để đánh thức người đời, do đó câu thứ tư bài thơ trên mới nói “Đánh thức mọi người bằng cây gậy Thần của Ngài”. Khi Pháp Luân Đại Pháp hồng truyền, mỗi cá nhân trên thế giới đều bị đánh động, và thái độ của họ đối với Đại Pháp sẽ quyết định tương lai của chính họ.
Theo Kinh Phật ghi lại, Chuyển Luân Thánh Vương cũng như Đức Phật, có 32 tướng, 7 bảo; Ngài không dùng vũ lực, mà dùng chính nghĩa để xoay chuyển bánh xe Chính Pháp, cuối cùng trở thành vị Vua lý tưởng của thế giới. Bất kể theo Phật giáo, Cơ Đốc giáo, Nho giáo, chỉ cần khoan dung với mọi người, thì đều có thể có duyên gặp Chuyển Luân Thánh Vương. Thế nhưng việc tốt hay gặp trắc trở, Thần đến thật rồi, mà con người vẫn nghi hoặc không tin.
Thế nhân trong mê bất tỉnh
Theo tục truyền, Bố Đại hòa thượng là hóa thân thế tục của Phật Di Lặc. Vào ngày 2 tháng 3 năm Trinh Minh thứ 2 triều Hậu Lương (năm 916 SCN), trước khi tạ thế, ông lưu lại bài kệ khắc trên bia đá trong chùa Nhạc Lâm như sau: “Di Lặc chân Di Lặc, Phân thân thiên bách ức, Thời thời thị thời nhân, Thời nhân tự bất thức” (Di Lặc là Di Lặc thật, Phân thân hàng trăm nghìn vạn, Lúc nào cũng bảo người đời, Chỉ bởi người không tự biết).
Bài kệ trước khi viên tịch của Bố Đại hòa thượng đã nói với người đời rằng, khi Phật Di Lặc tương lai hạ thế độ nhân, bất chấp chân tướng không ngừng triển hiện, thế nhân vẫn không thể đối diện với hiện thực.
“Phúc âm John” trong Kinh Thánh viết (1:10-11): “Ngài đã vào thế gian, thế gian đã được tạo nên bởi Ngài, nhưng thế gian chẳng nhận biết Ngài. Ngài đã đến với dân Ngài, nhưng dân Ngài không tin nhận Ngài”. Kinh Thánh còn nói khi Cứu Thế Chủ hàng thế cứu người, ánh sáng của Ngài sẽ chiếu rọi thế giới trong nháy mắt, tựa như tia chớp từ trời tỏa sáng không trung. Thế nhưng người đời không nhận Ngài là Đấng Cứu Thế, lại để Ngài phải chịu khổ không ít, thậm chí còn bị thế nhân không rõ chân tướng gièm pha.
Trong «Các Thế Kỷ» có một bài thơ nổi tiếng minh xác về thời gian, đó là Các Thế Kỷ X, Khổ 72 tiên tri về đại sự kiện:
Vào năm 1999, tháng 7,
Để Đại vương Angoulmois phục sinh,
Đại vương Khủng bố sẽ từ trên trời xuống,
Đến thời trước và sau khi Mars thống trị thiên hạ,
Nói là để có cuộc sống hạnh phúc cho mọi người.
Ngày 20 tháng 7 xác thực là một ngày đặc thù, được «Các Thế Kỷ» tiên tri là Giang Trạch Dân, kẻ chống Chúa, sẽ phát động cuộc đàn áp toàn diện đối với những người tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Cuộc đàn áp gây bao đổ máu, phỉ báng lừa dối, tạo ma nạn tại Trung Nguyên, mê hoặc thế nhân khiến họ phạm tội. Đây chính là trận đại chiến Chính-tà tối hậu Armageddon giữa Chiên Con và thú mà “Khải Huyền” nhắc tới, đến nay đã 12 năm. Đối diện với ma nạn, vô số Thánh đồ đã kiên nhẫn giảng rõ sự thật để thực hiện sứ mệnh cứu độ chúng sinh. Đảng Cộng sản Trung Quốc ngang nhiên chống lại Phật Pháp “Chân-Thiện-Nhẫn” của vũ trụ, đã rơi vào vũng bùn trong cuộc đọ sức Chính-tà này. Câu sấm “Cửu thập cửu niên thành đại thác” (Năm 99 thành sai lầm lớn) của dự ngôn «Thôi Bối Đồ» triều Đường đã trở thành sự thực.
Cuối cùng hướng về Thần
Kinh «Trường A Hàm», quyển 18 viết: “Chuyển Luân Thánh Vương xuất thế… thời các tiểu vương tại Đông phương thấy Đại Vương, đều dâng châu báu quy thuận. Ngoài ba phương Nam, Tây, Bắc đều như vậy”.
“Khải Huyền” của Kinh Thánh viết (7:9-10): “Sau những việc đó, kìa, tôi thấy một đám đông rất lớn, không ai có thể đếm được, từ mọi quốc gia, bộ lạc, dân tộc, và ngôn ngữ đứng trước ngai và trước Chiên Con; ai nấy đều mặc áo choàng trắng và tay cầm cành thiên tuế. Họ cùng nhau cất tiếng hô vang rằng, ‘Ơn cứu rỗi thuộc về Đức Chúa Trời chúng ta, Đấng ngự trên ngai, và thuộc về Chiên Con’.”
Cho dù phải trải qua bao nhiêu ma nạn, cuối cùng con người cũng đều hướng về Thần; những người này đến từ các phương, các nước, các dân tộc. Kinh Phật và Kinh Thánh đều nhất trí khi miêu tả điểm này.
Tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại
Sau khi Cứu Chủ hàng thế cứu vãn chúng sinh, nhân gian sẽ nghênh đón tân Thiên, tân Địa, tân nhân loại.
Kinh «Di Lặc Hạ Sinh» viết: “Quốc thổ đều phú thịnh, vô phạt vô tai ách; nam nữ đều do thiện nghiệp sinh. Đất không cây gai, chỉ sinh cỏ xanh, thuận theo gót chân, mềm như tơ tằm. Tự nhiên xuất lúa thơm, mỹ vị đều sung túc. Cây cối sinh y phục, màu sắc đều trang nghiêm; cây cao ba tòa nhà, hoa quả thường dư dật. Lúc ấy người trong nước, đều thọ tám vạn năm, không có khổ bệnh tật, đầu óc thường an lạc.”
“Isaiah” của Kinh Thánh viết (65:19-20): “Tiếng than khóc sẽ không còn nghe trong thành ấy; Tiếng khóc than sẽ vĩnh viễn không còn. Trong thành ấy trẻ thơ sẽ không chết yểu; Không người già nào không hưởng trọn tuổi thọ của mình; Vì ai trăm tuổi mà qua đời sẽ bị xem là chết yểu; Người chưa được bách niên mà phải lìa đời sẽ bị xem là bị nguyền rủa”. “Isaiah” (65:23-25): “Chúng sẽ không lao động một cách luống công; Chúng sinh con ra chẳng phải để chuốc lấy âu sầu, Vì con cháu chúng sẽ là dòng dõi của những người được CHÚA ban phước, Và dòng dõi của chúng tiếp theo chúng nữa. … Chúng sẽ không gây tổn hại hay phá hoại trong khắp núi thánh của Ta,’ CHÚA phán vậy”. “Khải Huyền” của Kinh Thánh cũng miêu tả tân Thiên, tân Địa như sau (22:2): “Giữa quảng trường của thành, nơi rẽ ra của hai nhánh sông, có một cây sự sống sinh trái mười hai đợt, mỗi tháng một đợt, và lá của cây ấy được dùng để chữa lành các dân”.
Bởi vậy, sau khi trải qua trận đại chiến Chính-tà này, những người có đạo nghĩa, duy hộ Phật Pháp sẽ được lưu lại và có phúc. Họ sẽ trường thọ an lạc, vô phạt vô tai, hoa quả sung túc, mỹ vị phong phú, chung sống hòa thuận, không tranh không đấu, nhân loại từ đó tiến nhập vào kỷ nguyên mới.
(Hết)
Dịch từ:
http://news.zhengjian.org/node/6875



Chuyện thần thoại dành cho con người tương lai
Tác giả: Một đệ tử Đại Pháp tại hải ngoại
[MINH HUỆ] Một đệ tử Đại Pháp nếu bằng cách nghe biết những chuyện tu luyện của người khác để củng cố vững chắc tín niệm tu luyện Đại Pháp, nhưng lại không từ lý tính để nhận thức chân chính Đại Pháp, mà mong có được tín niệm “bất động như kim cương kiên cố không thể phá” thì ấy vẫn là có lậu. Dưới đây tôi xin kể câu chuyện chân thực cuộc đời mình trước khi tu Đại Pháp. Hy vọng nó có thể giúp cho bộ phận những học viên nào vẫn chưa có được tín niệm bất động như kim cương. Chúng ta hãy cùng trân trọng sự kiện hy hữu hàng vạn năm mới có này, đó là tu luyện Đại Pháp trong quá trình Pháp Chính Càn Khôn.
Khi tôi 14 tuổi, có một vị sư phụ tìm và dạy tôi pháp môn tu luyện của Ngài. Khi ấy tôi mới là cô bé học sinh trung học, còn vị sư phụ đã sống trên 500 năm. Ông thường giảng Pháp cho tôi. Một vấn đề được giảng có khi đến hàng tháng, nhưng tôi vẫn không hiểu rõ cho được. Tôi được khai mở thiên mục ngay từ đầu trong pháp môn tu này, vì thế tôi có thể thấy trong các miếu, các chùa có những phụ thể là cáo, chồn, quỷ, rắn,… Trong các tượng Phật hầu như không có Phật. Những cảnh tượng ấy làm tôi sợ quá, nên tôi thường xin sư phụ đóng thiên mục của tôi lại.
Khi Đại Cách mạng Văn hoá xảy đến, mọi người đều đến Bắc Kinh, còn tôi, khi ấy quãng 26, 27 tuổi, một mình thân gái tìm đến núi Nga Mi [thuộc tỉnh Tứ Xuyên, Trung Quốc]. Lên lưng chừng núi tôi tới một ngôi chùa và gặp vị phương trượng trên 70 tuổi ở đó để xin tá túc qua đêm. Lão phương trượng bảo tôi: “Này cư sĩ, cô đi lạc hướng rồi. Cô cần đi hướng Bắc kia.” Tôi vội giải thích: “Cháu không lạc hướng đâu. Phương Bắc là của người thế tục. Còn đây là nơi cháu cần đến.” Lão phương trượng nghe thế rất lấy làm cao hứng, và chúng tôi trở thành những người bạn tâm đầu ý hợp.
Lưu lại được hai ngày, tôi hỏi lão phương trượng cách gọi lũ khỉ đến, vì tôi biết rằng lũ khỉ tại núi Nga Mi này đều có thông linh. Lão phương trượng nói: Hãy xoay mặt vào thung lũng mà gọi: “Tam Nhi, mau về ăn thôi.” Tôi bèn chọn chỗ có tiếng vang và gọi lớn vào thung lũng: “Tam Nhi, mau về ăn đi.” Một chốc sau hàng mấy trăm con khỉ đến, chúng nào hót nào nhảy trước mặt tôi rất là cao hứng. Con khỉ già nhất đến ôm và hôn hít tôi liên tục làm nước miếng dính đầy cả mặt. Sau đó nó nhổ miếng đan của mình ra khỏi miệng và đưa cho tôi. Tôi không dám nuốt lấy vì cảm thấy dơ quá. Lão phương trượng bảo: “Này cư sĩ, tâm của cô vẫn còn chướng ngại. Đan này phải mất mấy trăm năm mới tu được đó.”
Rồi lũ khỉ lập cầu khỉ bắc qua thung lũng (con đằng sau nắm chân con đằng trước cứ lần lượt như thế). Khỉ già nắm lấy tôi và chúng tôi qua bên kia thung lũng, ở đó cũng có một nhóm những con khỉ khác. Lão phương trượng nói: “Trong lịch sử xưa nay, mới chỉ có một người họ Hồ được đón tiếp trang trọng như thế, cô là người thứ hai. Cô còn có 2 điều hơn: thứ nhất là cái Đan do khỉ già đưa tặng, thứ hai là việc lũ khỉ đã vượt ranh giới này để đưa tiễn cô sang tận bờ thung lũng bên kia. Thông thường lũ khỉ không được phép vượt qua ranh giới ấy.”
Tại núi Nga Mi có rất nhiều người tu Đạo, nhưng không ai có thể thấy họ được, vì họ đều có công năng che giấu chỗ ở của mình đối với bên ngoài như được kể trong những chuyện thần thoại. Từ lưng chừng núi trở xuống là những vị đã tu hai, ba trăm năm. Có vị lâu nhất là dưới năm trăm năm. Nhóm này đông nhất và công trụ của họ cao nhất là đến lưng chừng núi.
Trong giới tu luyện thì sư phụ lựa chọn đệ tử, chứ không phải đệ tử chọn sư phụ. Người ta thường nhọc công vô ích cũng không thể tìm được sư phụ. Phần nửa trên núi số người tu luyện ít dần, đồng thời tuổi của họ cũng cao dần lên. Họ đều tu trên 2.000 năm và công trụ của họ đều vượt khỏi hệ Ngân Hà. Có một số đã vượt trên cảnh giới Như Lai, nhưng họ vẫn đang tu luyện vì chưa đến viên mãn. Trong đó có một sư phụ trong quá khứ của tôi. Sau này tôi được biết rằng khi sư phụ vĩ đại của chúng ta – Lý Hồng Chí – lên núi Nga Mi, tất cả người tu luyện đều ra đón chào Ngài, và công trụ của họ nhảy múa trên không trung như pháo hoa vậy.
Tại núi Thanh Thành có một Đạo nhân, tu đã đến 4.000 năm. Ông muốn tôi trở thành đệ tử của mình, nhưng tôi từ chối, nói rằng tôi đã có sư phụ rồi, và tôi mong muốn tìm một Pháp môn để thành Phật trong đời này. Ông nói với tôi: Ta ở đây đã chứng kiến Thích Ca, Giê-su, và Lão Tử đầu thai xuống thế giới này để truyền Pháp độ nhân. Tôn sư Lý Hồng Chí [sau này] có nói trong khi giảng Pháp rằng: Trên đường từ Tứ Xuyên về phía bắc đến Tây An, có nhiều người tu Đạo trong núi ra hỏi Tôn sư tại sao những đệ tử Đại Pháp lại tu mau lẹ như vậy. Tôn sư hỏi họ: “Các đệ tử của ta, tối đa tu hai năm, tối thiểu tu hai tháng; so sánh họ với các vị là sao?” Họ nói rằng: Chúng tôi không có mấy người theo kịp được. Sau đó Tôn sư đồng ý cho họ nghe Tôn sư giảng Pháp. Trong những người tu ấy, cũng có cả Đạo nhân tu 4.000 năm ấy.
Hết Đại Cách mạng Văn hoá, tôi cùng với một vị tu luyện khác đến khu vực Khang Tạng, với hy vọng rằng trong Mật Giáo tôi có thể tìm được Pháp môn tu thành Phật trong đời này. Những người trong giới tu luyện đều biết rằng Mật Giáo Tây Tạng hiện nay đã là tôn giáo chính trị từ lâu và mất căn bản tu luyện, và Mật Giáo chân chính là ở Khang Tạng chứ không phải ở Tây Tạng. Tới nơi, chúng tôi gặp một người cầu chính Pháp, vừa đi vừa lễ lạy suốt từ Trường Xuân đến Khang Tạng. Chúng tôi cùng nhau tìm tới một toà tự viện lớn, tại đó có một vị Đại Lạt Ma đang giảng Pháp. Tới nơi, vị Lạt Ma yêu cầu riêng mình tôi ngồi bên ông để nghe ông giảng, đây là một nghi thức tiếp đón rất hiếm và rất trang trọng trong Mật Giáo. Ông hỏi tại sao chúng tôi đến Khang Tạng cầu Pháp, và chúng tôi nói rằng tại Trung Nguyên [Trung Quốc] không còn chính Pháp, và trong các tự viện là những phụ thể cáo chồn quỷ rắn trú ngụ. Vì thế chúng tôi đến cầu tìm chính Pháp tại đây. Vị Đại Lạt Ma tĩnh lặng một lúc rồi nói: “Không phải vậy. Tại Trung Nguyên sẽ sớm có Đại Pháp vạn năm khó gặp. Nó sẽ xuất phát từ Trường Xuân. Các vị hãy quay về và chờ đợi.” Nghe vậy, tôi vội xuống núi và thoả thuận với bạn đồng hành rằng hễ ai tìm được Pháp ấy trước sẽ báo cho người kia. Nhưng vị đến từ Trường Xuân lại không tin và ở lại Khang Tạng.
Đầu thập niên 80, xuất hiện rất nhiều trẻ em có công năng. Có người đọc được bằng tai, có người nhìn bằng tay hoặc bằng gáy. Tôi tin rằng quý vị hãy còn ấn tượng từ những tình thế lúc bấy giờ. Chúng tôi những người tu luyện đều biết được tính chân thực của những điều ấy, và rằng những công năng ấy không được phép biểu diễn. Vì vậy tôi đã tìm đến rất nhiều em như vậy và giải thích với cha mẹ chúng tại sao không nên đưa công năng của con mình ra biểu diễn. Kết quả là tất cả những em đó đều được bảo hộ và sau này tham gia tu luyện Pháp Luân Đại Pháp. Còn những em bị gia đình đưa ra biểu diễn cuối cùng sau này đều bị hư hỏng trong xã hội người thường và cũng gây ảnh hưởng xấu đến xã hội. Bởi vì những công năng này không được phép hiển thị tuỳ ý ngoài xã hội người thường. Còn đối với việc gọi là chỉ trích công năng thì đó chẳng qua chỉ là những con rối mà chư Thần bày ra để khống chế tác hại của những hiện tượng như trên để khỏi ảnh hưởng đến xã hội người thường. Người ta càng không tin vào Thần thì lại có càng ít các công năng đặc dị mà chư Thần cho phép chứng kiến. Nếu Thần cho phép thấy được, thì đó chỉ là một chút ví dụ kỳ diệu để người ta có thể thay đổi quan điểm mà thôi. Thế mà nhân loại vẫn còn rất tự hào về những thành tựu khoa học và công nghệ hiện đại của mình.
Tại sao lại có những chuyện thần thoại na ná như nhau tại hầu như tất cả các nước? Ngày xưa đâu đã có các phương tiện truyền thông. Chính là vì nhân loại không còn tin vào Thần nữa, mà những câu chuyện thật về Thần lại trở thành chuyện “thần thoại”. Hồi ấy những em được tôi bảo hộ nói với tôi rằng: “Chủ của vũ trụ sẽ xuống cứu địa cầu.”
Mãi đến đầu thập kỷ 90 tôi vẫn chưa tìm được Pháp lớn (Đại Pháp), và tôi rất lấy làm thất vọng. Một hôm tôi quỳ trước một tượng Phật và thệ nguyện rằng: “Tôi nhất định tìm cho được Pháp môn chân chính tu luyện tính mệnh song tu, thành Phật trọng đời này để phổ độ chúng sinh.” Trong lúc ngồi luyện công đêm ấy, chủ nguyên thần của tôi bay lên đến hết không gian này đến không gian khác, đến không gian nào tôi cũng hỏi: “Pháp môn chân chính tính mệnh song tu, thành Phật trong đời này có không?” Mỗi mỗi không gian đều có rất nhiều người tu luyện, nhưng họ chưa từng nghe về Pháp môn chân chính và tốt như thế. Họ nói với tôi: “Có tìm được Pháp môn chân chính và tốt như thế, thì nhất định truyền lại cho chúng tôi, độ chúng tôi nhé.”
Sau đó công lực của tôi không cho phép tôi lên cao hơn. Một trong những sư phụ quá khứ đưa cho tôi một con hạc tiên và nó giúp tôi lên cao hơn. Đến mỗi không gian, tôi lại tìm và hỏi về chính Pháp ấy, cho đến khi không thể lên cao hơn nữa. Tất cả những người tu luyện tại các không gian đều thật tâm mong tôi sẽ tìm được Pháp chân chính và tốt như thế để truyền Pháp cứu độ họ.
Tôi cảm thấy rất buồn bực và thất vọng. Đột nhiên, từ trên trời cao bay xuống một đoá hoa sen đưa tôi lên. Đoá sen đưa tôi đến một điện Phật huy hoàng tráng lệ, ở đó có một vị Đại Phật đang giảng Pháp. Có tầng tầng lớp lớp chư Phật đang nghe Pháp của Ngài. Các vị Phật ngồi gần vị Đại Phật thì có thân thể to lớn hơn, còn các vị Phật ngồi xa vị Đại Phật thì có thân thể nhỏ hơn. Ngồi tại tầng ngoài cùng là các vị Phật Như Lai, và có thân thể nhỏ nhất. Có rất nhiều Phật Như Lai, trong đó có cả Lão Tử và Khổng Tử. Tôi ngạc nhiên khi thấy cả Giê-su cũng trong số ấy.
Tuy nhiên, lúc tôi đến là lúc Pháp hội giải tán. Tôi cảm thấy rất buồn vì thấy cơ duyên của mình với Pháp này còn mỏng quá. Đoá sen đưa tôi tiến đến trước mặt vị Đại Phật, và thân thể tôi cũng lớn dần nhờ sự gia trì từ Phật lực của vị Đại Phật. Vị Đại Phật thực hiện đại thủ ấn về phía tôi. Lập tức xuất hiện muôn đạo kim quang, và từ muôn đạo kim quang bay ra những kinh thư lấp loáng sắc vàng. Tôi mừng quá đưa hai tay đón lấy, hai cuốn kinh thư đầu tiên là Chuyển Pháp Luân và Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh). Tư tưởng tôi chợt máy động: “Tại xã hội người thường con biết tìm Ngài ở đâu?” Vị Đại Phật liền biến thành hình Sư phụ Lý Hồng Chí trong cuốn “Chuyển Pháp Luân” với bộ âu phục. Còn tôi được đưa về thân người ở nhân gian.
Tôi nóng lòng chờ đợi Pháp tại nhân gian và thời gian ấy quả là bứt rứt. Đến năm 1995, tôi bắt gặp người bạn đã cùng đi đến Khang Tạng. Thấy cô ấy sắc mặt hồng hào hẳn, tôi nói: “A, bạn chắc được chính Pháp rồi, cho tôi xem với.” Tôi giục cô ấy đưa về nhà, và khó có thể tả được tâm trạng phấn khởi của tôi lúc ấy. Vừa vào nhà tôi đã thấy cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)” trên bàn. Đúng là cuốn sách mà tôi tìm kiếm bấy lâu! Tôi giữ chặt nó trong tay, nhưng bạn tôi không cho tôi mang cuốn sách đó về vì cô ấy chỉ có mỗi một cuốn. Tôi nói: “Thế thì cho tôi biết bạn có cuốn sách này ở đâu để tôi đi kiếm.” Cô ấy cho tôi địa chỉ cửa hàng sách và tôi vội đến đó ngay, nhưng nhà hàng đang đóng cửa. Tôi hỏi chủ hiệu cuốn sách mang tên“Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)”, nhưng ông ấy nói rằng đã bán hết rồi: “Đợi đợt sau vậy”. Tôi không tin, và tự mình lục tìm trong giá sách. Tôi không tìm thấy, nhưng cũng không muốn bỏ cuộc. Cuối cùng tôi mở một ngăn kéo trong tủ sách và thấy hai cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)”lấp lánh kim quang. Tôi mua chúng luôn.
Về đến nhà là tôi đọc ngay, và lập tức sáng tỏ. Những sư phụ tôi từng học đã dạy tôi nhiều điều, trong đó có cả vòng đại và tiểu chu thiên, huyền quan thiết vị, thiên mục, túc mệnh thông,… Có khi phải mất cả năm trời để giải thích một điều mà tôi vướng mắc, mà tôi vẫn không hiểu được thấu đáo. Vậy mà chỉ vài câu chữ trong cuốn “Trung Quốc Pháp Luân Công (bản hiệu chỉnh)” đã làm sáng tỏ cả. Vì sao người xem kinh thư Đại Pháp nói rằng học cao khó hiểu? Cớ gì họ lại nghĩ rằng khẩu khí Tôn sư phóng đại quá? Đó là vì Tôn sư nói rõ những điều bí mật trong những bí mật của giới tu luyện mà người khác rất quý tiếc và không ai thực sự đề cập đến. Một người làm sao có thể đơn giản ngay lập tức chấp nhận trong đầu những điều sâu sắc ấy? Ngay cả một vị Thần cũng không thể. Vì thế có một số người cho rằng Tôn sư nói phóng đại.
Sau này có học viện hoạ lại câu chuyện của tôi thành tranh và đưa Tôn sư xem. Tôn sư nói: “Cái này sẽ là chuyện thần thoại cho con người tương lai.”
Tại Khang Tạng, tôi truyền Pháp cho những em mà trước đây tôi bảo hộ để chúng không biểu diễn công năng, và cho những người tu luyện trong núi. Tất cả đều quay lại trần thế để tu Đại Pháp. Có khi sư đệ đắc được Pháp trước, sau đó truyền sang sư huynh. Rồi sư huynh lại truyền lại cho sư phụ, và tất cả cùng đắc Pháp. Rất nhiều hoà thượng đã được Bồ Tát Quán Âm điểm hoá vào đêm trước khi học viên chúng tôi lên núi Nga Mi để hồng truyền Đại Pháp. Họ xuống núi và quỳ bên đường để đón cuốn “Chuyển Pháp Luân.” Tôn sư nói: “Thần đều biết ta đang truyền Đại Pháp. Chỉ có người là không biết.”
Tôi lập một danh sách những đệ tử chuyển sinh hạ giới của Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau đó, tôi tìm đến và truyền Pháp cho họ. Nhưng một số đã quá mê mờ trong [xã hội] người thường và không thể đắc Pháp được nữa. Không phải ai cũng có khả năng đắc Đại Pháp. Nhiều người đã tu cả mấy nghìn năm mà vẫn chưa đạt viên mãn, họ muốn đắc được Pháp này, nhưng không thể. Đắc được Pháp này là điều quý giá vạn năm khó gặp, vậy mà người thường chẳng biết trân trọng Đại Pháp vĩ đại của vũ trụ.
Chư Thần đều biết rằng bức hại Đại Pháp là tội không thể tha thứ.
Câu chuyện này chỉ là một phần nhỏ trong những kinh nghiệm tu luyện của tôi, và tôi cũng chỉ là một học viên Đại Pháp bình thường.
Dịch từ:
http://minghui.cc/mh/articles/2001/4/4/9613.html
http://www.clearwisdom.net/eng/2001/Apr/09/ESA040901_1.html